ngã) mà đã tạo ra khoảng cách xa vô cùng giữa chánh và tà, giữa sinh tử và Niết bàn, giữa thánh và phàm, giữa vọng và chân!
Lằn ranh đó cũng chỉ do khái niệm lập ra. Đó là khoảng cách giữa những người chưa giác ngộ với Diệu pháp.
Đức Thế Tôn thuyết giảng để giúp thính chúng mỗi người tự thấy lằn ranh ấy và tự xóa lằn ranh ấy. Đấy cũng là Diệu Pháp!
XVI. PHẨM NHƯ LAI THỌ LƯỢNG (phẩm thứ mười sáu)
( The Duration of the life the Tathàgata)
1. Như Lai có đến ba lần xác nhận liên tục rằng các sự kiện xảy ra và các lời dạy của Như Lai về các sự kiện đó là sự thật. Bồ tát Di Lặc, đại diện cho toàn thể chư Bồ tát, bạch xin Như Lai dạy tiếp về sự thật đó, tất cả đều đặt hết lòng tin vào Như Lai.
Thế Tôn tiếp tục tuyên bố bí mật của Như Lai trong những dòng kinh kế tiếp (phẩm 16).
2. Sự kiện lịch sử ghi nhận Như Lai có ra đời, xuất gia, thành đạo và nhập diệt chỉ là thị hiện. Thực sự, Thế Tôn thành Phật đã từ lâu xa vô lượng vô biên hằng hà sa a tăng kỳ kiếp, chứ không phải mới thành Phật ở Bồ đề đạo tràng ở Ưu-lâu-tần-
loa, Ấn Độ. Do vì Như Lai là như tính, hay thật tính không tính, nên Như Lai vốn đã là Như Lai từ vô lượng xa xưa. Không thể có sự kiện Như Lai thành Phật, nên cũng không thể có sự kiện Như Lai nhập diệt, thành đạo. Như thể ấy rời khỏi hết thảy ngã tướng, nên không phải đến, không phải đi, không phải sinh, không phải diệt. Vì lẽ đó, Như Lai dạy: “ Ta từ vô lượng kiếp trước đến nay vẫn thường có mặt ở Ta bà nói pháp giáo hóa, cũng như thường giáo hóa vô lượng cõi nước khác”.
Do vì tất cả pháp đều do Duyên khởi sinh, nên cũng là Duyên khởi tính vô tính. Vì là duyên khởi tính vô tính nên một là tất cả, tất cả là một, và là vô tính. Vô tính đó là thật tính hay Như tính của các pháp gọi là Như Lai. Vì thế, dù ở đâu trong pháp giới cũng hệt như ở đây; dù mới thành đạo thì cũng hệt như đã thành từ vô lượng vô biên vô số kiếp trước. Nếu có ai thấy khác như thế, thì cái thấy của người ấy liền bị rơi vào ngã tính, ngã tướng. Chính do cái nhìn ngã tính, ngã tướng mà Diệu pháp bị che khuất; và cũng chính do cái nhìn ngã tướng, ngã tính ấy mà khởi lên tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Nói tóm, Như Lai là vô ngã, vô sinh. Còn các chuyện sinh, diệt, thành đạo, đến, đi, lâu xa, hiện tại, kia, đây là thuộc về các ngã tướng của sinh diệt.
Vô ngã, vô sinh là thực tại. Còn các tướng kia là của khái niệm. Thực tại thì không phải là khái niệm. Đơn giản là vậy, và đó là ý nghĩa lời dạy vừa trích dẫn trên của Như Lai được Như Lai bảo đó là điều bí mật của Như Lai, và đã được Như Lai diễn giảng như đoạn kinh dưới đây:
“ Ta thấy như thực Tam giới. Ta thấy Tam giới là thế giới mà chúng sinh vốn không sinh, không diệt, nghĩa là không có xuất hiện, không có nhập diệt, không phải thật, không phải không thật, không phải như “nó là”, cũng không phải như “nó không là”. Ta không thấy Tam giới như chúng sinh trong Tam giới thấy. Ta thấy một cách rõ ràng và không có sai lầm”.
Anh văn: “ I see the Triple world as it really is. I see that the Triple world is the world of which the living beings have not birth or death, that is to say, do not appear or disappear, that it is the world in which I do not appear, or from which I do not disappear, that is not real or unreal, and that it is as it seems or as it does not seem. I do not see the Triple world in the same way as the (living beings of) the Triple world do. I see all this clearly and infallibly”.
(Ibid.p.220)
Cũng như cảnh Bồ tát Văn Thù trong một thời gian ngắn giáo hóa ở Long cung đã độ vô số
Bồ tát đắc tuệ giác vô thượng. Thế Tôn trong thời gian chừng hơn 40 năm trần thế, như là một thoáng qua của cõi trời Đâu Suất, như là chỉ bằng thời gian “ một cái hắt hơi” ở cõi trời Phạm Thiên, Thế Tôn đã giáo hóa vô lượng đại Bồ tát đắc vô thượng. Cảnh ấy là biểu hiện của thực tại có tác dụng đánh tan các ngã tưởng trong tâm thính chúng. Khi ngã tưởng tan, thì hiền ngộ Phật trí.
Nếu chúng ta không để cho cái tưởng dong ruổi theo các lời lẽ, ngôn từ khái niệm kia, không để cho các ngã tưởng chụp bắt các dòng kinh ấy và khái niệm hóa chúng, thì chúng ta ắt lãnh hội được nghĩa “ Nhất thừa” (hay thật nghĩa).
Các phẩm kinh từ phẩm 11 đến phẩm 22, đã được Thế Tôn vận dụng “thế giới của sự” mà diễn bày hầu để đánh thức thính chúng đi nhanh ra khỏi ngã tưởng.
Tại đây hiện rõ ra sự khác biệt giữa cái nhìn của Như Lai và cái nhìn của chúng sinh trong ba cõi: Một cái nhìn như thực rời khỏi ngã tưởng, một cái nhìn khác vướng mắc tướng khái niệm của ngã tưởng. Nếu thính chúng biết giật mình thay đổi liền cái nhìn của chính mình thì liền bừng ngộ Phật trí, thấy rằng: