Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa

Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa

Tác giả: Hòa thượng Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 194.

Chương 16: X. Phẩm pháp sư (phẩm thứ mười) (Trang 90 - 96)

Phần mở bày khai, thị, ngộ, nhập Phật tri kiến bằng ngôn ngữ lập nên cảnh thuyết giảng thứ nhất đến hết phần thọ ký là kết thúc. Chúng ta hãy đi vào khảo sát phẩm cuối của phẩm thứ nhất này: phẩm Pháp sư.

X. PHẨM PHÁP SƯ (phẩm thứ mười)
( The Teacher of the Law)

1. Thế Tôn không dừng lại phần thọ ký thành Phật ở hàng Thanh văn, mà mở rộng thọ ký đến hàng Bồ tát và đến cả những người chỉ biết tùy hỷ một lần về việc nghe, nói, đọc, tụng, biên chép, ấn hành Pháp hoa, như Thế Tôn đã hé mở từ phẩm Tựa và phẩm Phương tiện. Thế có nghĩa là Pháp hoa chủ trương mọi chúng sinh đều có trong mình khả năng thành Phật. Phần này Thế Tôn đặc biệt khích lệ cổ vũ, làm cho phấn chấn hàng Nhơn, Thiên… phát khởi Bồ đề tâm cầu quả Phật.
Tinh thần thọ ký này tỏa ngát hương lạc quan của Phật giáo trước cuộc diện sinh tử vô lượng thời gian. Thái độ sống lạc quan ấy càng hiện rõ nét hơn trước một đời sống 100 năm ngắn ngủi của con người.
Như là ngọc quý trong gấu áo của mình, chính kiến về vô ngã là viên ngọc quá của tâm thức giúp con người thanh thản đứng vững trước
Mọi sóng gió vô thường, khổ đau của cuộc đời. Phương chi Phật giáo mới phát sinh ra những tâm hồn “ Nhậm vận thịnh suy vô bố úy, thịnh suy như lộ thảo đầu phô” ( Vạn Hạnh Thiền sư)
2. Tư tưởng
a. Biểu tượng của Bồ tát Dược Vương ( Medecine King): Dược Vương có nghĩa là phương thuốc chúa, phương thuốc thần hiệu nhất để trị tâm bệnh.
Phẩm kinh này Thế Tôn dạy chuyện trực tiếp với Bồ tát Dược Vương có nghĩa là nội dung phẩm kinh là phương thuốc thần diệu nhất để chữa lành tâm bệnh tham, sân, si, chấp thủ các ngã tướng của chúng sinh.
Phương thuốc ấy là gì?
Đó là Diệu pháp liên hoa. Hay gọi đó là pháp “ Nhất thừa”, đó là pháp “ Duyên khởi”, Vô ngã được diễn giảng trong kinh Pháp hoa này.
Hơn nơi nào khác, và hơn phẩm kinh nào khác trong 28 phẩm, phẩm “ Người giảng dạy Pháp hoa” (Pháp sư) này trình bày chi li về sự việc hết lới cac ngợi Pháp hoa đi song song với kỹ thuật giáo dục, khích lệ người đời học hỏi và tu tập theo Pháp hoa.
Lược ý đại để rằng:
- Những ai dù chỉ tùy hỷ Pháp hoa, hoặc đọc, nghe, chép, giảng Pháp hoa dù chỉ một dòng kinh,
- Những ai cung kính đảnh lễ kinh Pháp hoa, cúng dường kinh như là cung kính đảnh lễ chư Phật.
- Những ai giới thiệu người khác nghe Pháp hoa, nhường chỗ cho người khác ngồi nghe, hoặc giảng nói một dòng Pháp hoa, hoặc ấn loát, sao chép Pháp hoa v.v…
- Những ai giảng dạy toàn kinh cho công chúng nghe.
Tất cả những người đó, kinh ghi nhận, là đã gieo trồng nhiều công đức ở hành vạn ức chư Phật, quyết định vị lai sẽ thành Phật. Tất cả những người đó đáng được cung kính, tôn trọng, cúng dường … Tất cả những người đó được xem là các Bố tát xuất hiện ở đời để giới thiệu Pháp hoa, tất cả là sứ giả của Như Lai.
Huống chi là những người học hiểu, giảng nói và thực hành Pháp hoa! Quyết định họ đang tiến gần tuệ giác vô thượng!
Đề cao công đức của những thiện nam tín nữ biên chép, đọc, tụng, giảng nói, tôn kính cúng dường và tu tập pháp hoa như trên là Thế Tôn gây một sự chú ý rất mạnh vào giáo lý “ Nhất thừa” và những quan điểm giáo lý khác chứa đựng trong kinh Pháp hoa này. Đấy là Thế Tôn nhấn mạnh tính thống nhất của giáo lý Phật giáo, nhấn mạnh chủ trương thống nhất giáo lý các bộ phái Phật
giáo, nhấn mạnh giáo lý Tứ đế, Duyên khởi được tu tập theo tinh thần Bồ tát, nhấn mạnh sự tu tập lìa bỏ tham ái, chấp thủ và phát đại từ bi tâm cứu độ chúng sinh.
Lời ca ngợi ấy của kinh có ý nghĩa khoa đại không? Chúng ta thấy rằng những dòng kinh ca ngợi, khích lệ ấy là đúng mực và cần thiết.
Tất cả việc làm hướng về Diệu pháp kể trên đều thể hiện việc nuôi dưỡng và phát triển trí tuệ Vô ngã, mà trí tuệ này lại có công năng trừ diệt hết thảy chổ và giúp vô số chúng sinh trừ tất cả khổ, nên đáng được đánh giá cao nhất. Sự thật bao giờ cũng quý hơn mộng, hơn một nghìn vũ trụ trân bảo của ngã tướng, của ngã tưởng, của mộng mị.
b. Chúng ta hãy chiêm nghiệm một lời dạy tiêu biểu của phẩm kinh này:
“ Bất cứ ai mong cầu tuệ giác của Phật mà nghe hay thấy kinh Diệu pháp liên hoa này, và sau khi người ấy tin hiểu, gìn giữ, phải biết rằng người ấy đang đến gần Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”.
Anh văn:
“ Anyone who, while he is seeking the enlightenment of the Buddha, sees or hears this Sutra of the Lotus flower of the Wonderful law,
And after hearing it, understands it, by faith and keeps it, know this, will come near Anuttara-Samyak-sambodhi”.
                                      (Ibid.p.161)

Lời dạy trên dạy thẳng vào pháp giải thoát dành cho chư Bồ tát gọi là “ Vô lượng nghĩa”. Vô lượng nghĩa lại phát xuất từ một pháp gọi là “không tướng” (thực tướng). Nghe, hiểu, gìn giữ chính niệm hoa như vậy là nghe, hiểu và gìn giữ chính niệm về “ không tướng” (vô ngã) và còn đường thể nhập “ không tướng”, con đường thể nhập “không tướng” là con đường hành pháp lợi sanh rời xa hết thảy ngã tưởng (gọi là Lục độ Ba-la-mật). Do vì tính cần dập tắt các ngã tưởng hay dập tắt chấp thủ các ngã tướng, mà hành giả đến gần thực tướng ấy, quả là trí tuệ đến gần quả vị Vô thượng Chính đẳng Chánh giác, như kinh Pháp hoa dạy. Đây là sự thật:
c. Tinh thần trí tuệ và thiết thực của Pháp hoa:
Thế Tôn dạy: “ Này Dược Vương! Hãy dựng tháp bảy báu nơi nào diễn nói, đọc, tụng, biên chép kinh Pháp hoa này, ở bất cứ nơi nào có mặt kinh Pháp hoa này! Hãy xây tháp cao, rộng và đẹp đẽ. Người không cần để xá lợi của Ta trong tháp ấy.
Anh văn: “ Medecine King! Erect a stùpa of the seven treasures in any place where this sùtra is
Expounded or read, recited or copied or in any place where a copy of this sùtra exists! The stùpa should be tall, spacious, and adorned. You need not enshrine my sarìras in the stùpa”.
                                   (Ipid.p.160)

Rất nhiều đoạn kinh Pháp hoa nói lên tinh thần giáo lý rất thiết thực và trí tuệ, theo đúng truyền thống kinh tạng Phật giáo.
Đoạn kinh này nghe có vẻ là dạy xây tháp quý để tỏ lòng tôn kính, cúng dường kinh Pháp hoa, nhưng kỳ thực Pháp hoa tế nhị khuyên dạy người đời nên học hỏi, trầm tư và tu tập Chánh pháp hơn là tôn trọng kinh một cách hình thức (dù sự tôn quý kinh là nhân duyên khởi đầu để học hiểu và thực hành kinh), hoặc là tôn kính, đảnh lễ xá lợi Phật. Nói cách khác, hình thức biểu hiện lòng tôn kính Phật, xá lợi Phật, và lòng tôn kính Pháp có ye nghĩa nhất là học hiểu và tu tập giải thoát, hành Bồ tát hạnh.
Đây đích thị là việc làm thiết thực vì sự nghiệp trí tuệ giải thoát của con người.
d. Điều kiện diễn nói kinh Pháp hoa:
Kinh ghi người diễn nói kinh Pháp hoa cho các hội chúng cần hội đủ ba điều kiện:
- Vào thất của Như Lai: Ngôi nhà đại từ bi.
- Khoác y Như Lai: Nhu hòa, nhẫn nhục.
- Ngồi chỗ ngồi của Như Lai: Thấy rõ “ không tánh” (hay không tướng) của tất cả pháp.
Lòng đại từ bi là lòng của một Bồ tát khởi tâm cứu độ chúng sinh. Tính nhu hòa, nhẫn nhục là hạnh của Bồ tát. Nhưng linh hồn của Bồ tát đích thực vẫn là sự liễu hội không tánh.
Thiếu tâm đại từ bi thì Bồ tát hạnh không còn. Thiếu nhu hòa nhẫn nhục thì Bồ tát hạnh khó thực hiện. Thiếu sự liễu hội thực tướng, thì Bồ tát đánh mất bản chất của mình và đánh mất sứ mệnh diễn nói Diệu pháp.
Qua ba điều kiện trên mà một giảng sư Pháp hoa cần có, theo lời dạy của Thế Tôn, kinh Pháp hoa đã xác định rõ ràng Diệu Pháp đúng là không tính của các pháp, là sự liễu tri không tánh đó.
Đây là điểm giáo lý tinh yếu nhất của các bộ phái Phật giáo, mang tính chất rất truyền thống của đạo Phật. Và đây cũng đúng là phương thuốc thần hiệu trị lành vĩnh viễn căn bệnh sinh tử, vô minh. Phương thuốc này kinh Pháp hoa gọi là Bồ tát Dược Vương.
/37
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »