Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa

Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa

Tác giả: Hòa thượng Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 194.

Chương 19: XIII. Phẩm trì (phẩm thứ mười ba) (Trang 116 - 118)

như chuyện Long nữ dâng viên ngọc lên Thế Tôn. Chỉ do vì không biết buông bỏ ái, thủ, hay không muốn buông bỏ ái, thủ nên hành giả mới mài miệt công phu giải thoát mãi mà vẫn không thành tựu. Công phu như thế chỉ nuôi dưỡng các ngã tưởng đi vào sâu sinh tử. Đeo đẳng công phu ấy mà mong cầu thật trí thì hành giả sẽ đi vào tình trạng “mài ngói gạch mà mong thành gương”.
Những hình ảnh biểu tượng của những trang kinh phẩm 12 này tạo nên bức tranh vô giá, vừa có nét đẹp mỹ thuật nhẹ nhàng, vừa có một sứ bật vô cùng mạnh mẽ làm nghiêng đổ thế giới khái niệm ước lệ, cái thế giới khái niệm đã tạo ra những giá trị ngã tính của cuộc đời. Nhờ thế, cứ qua mỗi cảnh diễn nói bằng “sự” hay bằng “lý”, Thế Tôn đã khai mở Phật trí cho rất nhiều vị trong hàng thính chúng.

XIII. PHẨM TRÌ (phẩm thứ mười ba)
( The encouragement of keeping this Sùtra)

1. Pháp sư Cưu-ma-la-thập để nhan đề phẩm kinh thứ mười ba là Trì (giữ gìn Kinh). Murano để tên anh ngữ là “ Khích lệ việc giữ gìn này”. Pháp bản của Bourneuf dịch là “ Nỗ lực” (giữ gìn kinh).
Chư Bồ tát, hiểu được ý Phật, lần lượt phát nguyện làm người diễn giảng Pháp hoa trong tương lai. Phẩm kinh này có trọng điểm xiển
dương Diệu pháp liên hoa ở đời, xiển dương Chính giáo.
2. Tư tưởng
a. Danh hiệu Dược Vương và Đại Nhạo Thuyết đã được đề cập đến ở các phẩm kinh trước. Tên hai vị Bồ tát mở đầu phẩm kinh này phát nguyện giữ gìn Pháp hoa là hai biểu tượng nói lên hai yêu cầu cho việc giữ gìn và truyền bá Pháp hoa ở đời. Hai yêu cầu chính đó là:
+ Khả năng diễn giảng của pháp sư (Đại Nhạo Thuyết).
+ Phương thuốc thần diệu tiêu diệt tham, sân, si, (đã được đề cập) như là nội dung truyền đạt.
Về khả năng diễn giảng của người diễn giảng, phẩm kinh thứ 10 đã ấn định: lòng đại từ bi; tánh ôn hòa nhẫn nhục và trí tuệ thấy rõ “ không tánh” của các pháp.
Về phương thuốc trị tâm bệnh, là vô ngã và con đường vào vô ngã ( Tứ Thánh Đế). Như đã được bàn ở các phần trước, Tứ đế ở đây được hiểu và hành theo nghĩa “ Nhất thừa” (xem lại phần bàn ở phẩm thứ ba, Ví dụ ngôi Nhà lửa).
b. Năm trăm vị A-la-hán đã được thọ ký phát nguyện lên đường hành Bồ tát hạnh, hộ trì Pháp hoa ở các cảnh giới khác (cảnh giới khác ở đây hàm nghĩa độ tha).
c. Đến lượt chư tôn Ni được Thế Tôn thọ ký; tất cả đều phát nguyện hành Bồ tát hạnh ở các cảnh giới khác (độ tha).
 Tất cả các vị ngộ Phật trí đều sẽ đi vào con đường của Bồ tát. Đây là sự kiện giữ gìn kinh Pháp hoa ở đời. Có mặt hàng Bồ tát ở đời là có mặt kinh Pháp hoa vậy. Huống hồ, chư Bồ tát ở đây phát nguyện đặc trách duy trì kinh Pháp hoa qua các hình thức đọc, tụng, biên chép, ấn hành, diễn nói kinh. Nhất là phần người diễn giảng nói: Phần giữ gìn kinh Pháp hoa ở đời là rọi sáng nghĩa “ Nhất thừa” thống nhất về một mối các quan điểm giáo lý, thống nhất ở mặt tổ chức xã hội, và thống nhất từ trong nhận thức mỗi người về giáo lý nền tảng.
Tại phẩm kinh này, Đức Thế Tôn (hay là quan điểm kinh Pháp hoa) đặt vấn đề với Hội chúng việc đem Pháp hoa vào đời, đem tinh thần Pháp hoa, nội dung Pháp hoa vào đời. Đây là vấn đề của cuộc sống xã hội, và là vấn đề giải thoát cho cuộc sống trong chính cuộc sống với tinh thần phương tiện thiện xảo nhằm đem lại an lạc lợi ích và chánh kiến cho đời.
/37
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »