Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa

Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa

Tác giả: Hòa thượng Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 194.

Chương 11: V. Phẩm Dược Thảo Dụ (phẩm thứ năm) (Trang 64 - 66)

Dụ ngôi nhà lửa Tam giới (phần 3). Tập khí đó là những ngã tưởng rất tề nhị như được chỉ bày ở phẩm Tín Giải (phẩm 4). Tập khí đó là khả năng đón nhận Diệu pháp và ý chí thực hành Diệu pháp, như được dạy ở Phẩm Dược Thảo Dụ (phẩm 5) tiếp theo.
Thế Tôn lần lượt chỉ rõ những nguyên nhân ngăn che Phật trí, giúp thính chúng làm rụng đổ dần các ngăn che ấy để làm hiển lộ thực tướng không tướng trong các phẩm kinh tế tiếp.

V. PHẨM DƯỢC THẢO DỤ (phẩm thứ 5)
(The Simil The of Herbs)

1. Sau phần trình bày chỗ thấy biết Phật tri kiến của mình, Tôn giả Đại Ca-diếp ( đại diện cho bốn Tôn giả trí tuệ) được Thế Tôn khen ngợi đã nói hay và nói đúng về các đức của Như Lai trong vai trò dẫn dắt các Tôn giả đến “ Nhất thừa”.
Bấy giờ các đệ tử Thanh văn căn trí thấp kém vẫn chưa rõ “ Nhất thừa”, Thế Tôn bèn nói đến khả năng giáo dục phương tiện thiện xảo và hữu hiệu vô cùng của Như Lai để xây dựng vững lòng tin của thính chúng. Rồi Thế Tôn dạy tiếp ảnh dụ về cây cỏ để tiếp tục soi sáng các nhân tố ngăn che nghĩa “ Nhất thừa”.
2. Tư tưởng
a. Đức Thế Tôn đưa ra ảnh dụ một đám mây lớn cho mưa khắp loài hoa cỏ để nói lên thái độ giảng dạy cùng các điều kiện tiếp thu giáo lý của chúng sinh, lần lượt chỉ rõ nghĩa “ Nhất thừa”.
- Như đám mây lớn phủ khắp bầu trời cho mưa xuống khắp muôn loài hoa cỏ một cách bình đẳng giảng dạy cho mọi căn cơ chúng sinh với cùng một hệ giáo lý giải thoát.
- Như nước mưa rưới xuống chỉ có cùng một vị, dù các loài hoa cỏ đón nhận khác nhau. Cũng vậy, pháp mà Thế Tôn thuyết giảng chỉ có thuần một vị giải thoát “ Nhất thừa”.
- Như cùng nhận nước nhiều vô lượng thuần một vị từ cùng một đám mây ấy, nhưng mỗi loài hoa cỏ tiếp thu khác nhau tùy theo khả năng của mỗi loài. Cũng vậy, giáo lý Thế Tôn dạy cùng một vị “ Nhất thừa” và cho đồng đều tất cả, nhưng vì mỗi chúng sinh có các điều kiện trí tuệ, ý chí, tình cảm v.v… khác nhau, nên sự đón nhận từ một cơn mưa pháp bình đẳng ấy lại khác nhau; do đó mà thành ra có ý nghĩa các thừa khác nhau như Thanh văn, Duyên giác và Bố tát.
Tại đây, kinh chỉ rõ tập khí ( hay nhân tố) ngăn che nghĩa “ Nhất thừa”, mà hiện ra ba thừa là do khả năng học, hiểu và hành khác nhau của hàng đệ tử. Thực sự pháp chỉ có một sự thật của nghĩa “ Nhất thừa”, và Thế Tôn cũng chỉ nói ra nghĩa “ Nhất thừa”.
b. Đoạn cuối của ảnh dụ, Thế Tôn cắt nghĩa lý do khiến cho các đệ tử khó thấy nghĩa “ Nhất thừa” như là: Do vì chúng sinh có căn tánh khác nhau, trí tuệ khác nhau, tình cảm, ý chí, kiến thức và dục vọng khác nhau, nên Thế Tôn phải nói pháp cho thích ứng những căn cơ ấy bằng lời lẽ khác nhau, diễn đạt khác nhau v.v… do đó thính chúng khó thấy trọng điểm của giáo lý.
Tuy thế, Thế Tôn đã xác định về tính chất của giáo lý. Ngài giảng dạy là giúp chúng sinh rời chấp thủ ngã tướng, hủy diệt lòng tham ái các pháp. Qua đó, nghĩa “Nhất thừa” ló dạng đằng sau sự dập tắt ái, thủ. Chấp thủ diệt thì các ngã tưởng diệt, và thực tại “ Không tướng” hiển hiện. Thực tại hoàn toàn “không tướng” ấy là thực tướng, là nghĩa “Nhất thừa”. Chứng ngộ thực tại đó là chứng ngộ Phật trí.
c. Khi thính chúng rõ thêm lý do đức Phật dạy pháp nhân ra ba thừa thì đồng thời rõ được sự thật “Nhất thừa” của pháp. Rõ được sự thật này thì nghi
/37
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »