“ Chúng con sẽ thực hiện như Thế Tôn bảo. Chắc thật, xin Thế Tôn đừng lo!”
Anh văn:
“ We will do as you command. Certainly, World-Honoured One! Do not worry!”
(Ibid.p.271)
Con đường vào Diệu pháp “Nhất thừa” ấy là Tứ Thánh đế, Duyên khởi và Lục độ Ba-la-mật được giới thiệu với các phương tiện thiện xảo tùy theo căn cơ.
XXIII. PHẨM DƯỢC VƯƠNG BỒ TÁT BỔN SỰ (phẩm thứ hai mươi ba)
( The Previous life of the Medecine Bodhisattva)
1. Như đã được giới thiệu từ đầu sách, sự và lý trong kinh Pháp hoa không rời nhau: lý là chỉ về sự thật của sự; sự là biểu hiện đích thực của lý. Vì thế trong nội dung khai thị đã hàm chứa nội dung của ngộ nhập; trong phần giới thiệu về ngộ nhập đã có mặt phần khai thị. Có thể phát biểu rằng 22 phẩm kinh đầu là phần hiển lộ thật tánh (gọi là hiển tánh); sáu phẩm kinh cuối là phần giới thiệu con đường thể nhập thực tính (gọi là hiển hạnh). Phần hiển hạnh này bao gồm đủ hai bước đi giải thoát cơ bản này:
- Bước thứ nhất là bước đi dập tắt ngọn lửa tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não của Tam giới ( Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc giới) để đạt đến Niết bàn của giải thoát thân ( Vimukti-Kàya).
- Bước thứ hai là bước cuối cùng thể nhập Phật trí, hay thể nhập pháp giới thật tánh, còn gọi là chứng nhập Niết bàn của pháp thân ( Dharma-Kàya).
Đức Thế Tôn ra đời nhằm chỉ rõ cho chúng sinh thấy hai bước đi ấy và trao trọng trách cho hàng Bồ tát tiếp tục ở lại cuộc đời chỉ dạy cho chúng sinh con đường và dẫn dắt chúng sinh đi trên con đường giải thoát của hai bước vào pháp giới tánh.
Phẩm Dược Vương Bổn Sự (thứ 23) thuật lại một mẫu đời điển hình của Bồ tát đi đến giác ngộ Diệu pháp trong quá khứ hầu giúp chúng sinh noi gương.
2. Tư tưởng
a. Dược Vương có nghĩa là liều thuốc thần diệu nhất (liều thuốc chúa). Như một liều thuốc thần diệu chữa lành các thân bệnh, liều thuốc chúa ở đây có tác dụng chữa lành các tâm bệnh ngăn che Phật trí.
Vì thế, tại đây Thế Tôn dạy về sự tích Bồ tát Dược Vương và vì thế tại đây Bồ tát Tú Vương Hoa ( biểu tượng cho đóa hoa tinh anh của hành tinh lớn nhất, hay biểu tượng cho thực tướng của các tướng), tiếng nói của thực tướng, hỏi về phương thuốc đối trị các nhân tố ngăn che Phật tánh.
b. Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức ( Sun-Moon-Pure-Bright-Virtue):
Danh hiệu Thế Tôn này là biểu tượng. Đức (Vir tue) là biểu tượng cho Thánh giới uẩn (và cả định uẩn bao hàm trong đó); Minh (Bright) là biểu tượng cho Thánh tuệ uẩn. Ba uẩn này nếu được tu tập cho đến chỗ thuần tịnh sẽ phát khởi trí tuệ sáng như Nhật Nguyệt.
- Đức Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức ra đời từ vô lượng kiếp lâu xa về trước biểu tượng cho thời gian vô ngã của thực tại như thật.
- Cảnh giới của Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức không có nữ nhân, không có địa ngục, ngạ quỉ v.v… là biểu tượng cho thanh tịnh, “ giải thoát thân” rời xa các dục, các ngã tưởng. Vì rời hết thảy dục tưởng và ngã tưởng nên rời khỏi các tướng bị diệt. Đây là nội dung kinh dạy đất bằng trân bảo …
- Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Bồ tát ( Gladly-seen-By-All Beings).
Vị Bồ tát mà ai gặp cũng sinh hăm hở, hân hoan. Đây là biểu tượng mong cầu giải thoát của hết thảy chúng sinh. Bồ tát Hỷ Kiến, hay đúng hơn là hạnh nguyện của Bồ tát, là giấc mơ giải thoát rốt ráo của toàn thể chúng sinh. Giấc mơ đạo ấy chính là phương thuốc thần diệu nhất gọi là Dược Vương để hủy diệt hết
Thảy căn bệnh trầm kha của vô minh, sinh tử. Giấc mơ đó là gì? – Chúng ta hãy tuần tự đi vào hạnh nguyện của Bồ tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến thì sẽ rõ.
c. Theo kinh thuật, Bồ tát tinh tấn kinh hành trong 12.000 năm cầu giải thoát mới đắc được định Hiện Nhất Thiết Sắc Thân ( Obtained the samàdhi by which he could transform himself into any other living being), là kết quả định có khả năng hóa hiện bất cứ sắc thân nào hành giả muốn.
Đây là ý nghĩa diễn bày công phu chuyên chú tâm và tinh cần nỗ lực tu thiền định để nhiếp phục 6 căn và 6 trần, thể hiện “ thiên như thị” tại 6 căn, 6 trần ấy. Nói gọn là công phu chuyên chú, tinh cần hành, quán niệm vô ngã (khởi tưởng vô ngã) thường soi chiếu 6 căn và 6 trần.
d. Bồ tát sau khi đắc định trên đã dùng hỏa định lực đốt cháy thân để cúng dường Phật:
Sự kiện đốt thân để cúng dường có xảy ra trong thực tế cuộc sống, nhưng ở đây là biểu tượng đưa ra để giáo dục, đó là ý nghĩa xả bỏ thân ngũ uẩn để cầu Phật trí: Đốt cháy ngã tưởng về thân, về 5 uẩn. Chỉ khi nào đoạn diệt thân ngũ uẩn thì khi đó hành giả mới phá tung tất cả những sợi dây ràng buộc. Thấy rõ sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, hành là
vô ngã và thức là vô ngã là nhen lên ngọc lửa trí tuệ đốt cháy thân sắc vậy – Tại đây chúng ta cần có nhận thức tế nhị rằng: Chỉ có những tu sĩ đã đoạn tận tham ái, chấp thủ thì việc đốt thân cúng dường mới đúng Phạm hạnh; những ai chưa rời khỏi ái, thủ mà đốt thân thì vi phạm giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa.
Sự thật thân ngũ uẩn không ràng buộc tâm thức con người, chỉ có lòng tham ái, chấp thủ năm uẩn mới ràng buộc. Vì thế, để minh định ý nghĩa rõ ràng, Bồ tát sau đó tiếp tục đốt cháy hai cánh ta công đức để cúng dường xá lợi Phật. Tay là biểu tượng của nắm bắt; đốt cháy hai cánh tay là đốt cháy tâm chấp thủ ngã và chấp thủ pháp. Đây là sự kiện đốt cháy triệt để chấp thủ. Kết quả của sự đốt cháy chấp thủ triệt để này là được thân vàng của Phật, như kinh diễn đạt. Được thân vàng và được Phật trí.
Truyền thống Đại thừa thường dâng năm phần hương cúng dường Phật là: hương giới, hương định, hương tuệ, hương giải thoát và hương tri kiến giải thoát. Chính là ý nghĩa tự công phu tu tập Giới, Định, Tuệ, giải thoát và tri kiến giải thoát là hương giải thoát dâng cúng chư Phật có ý nghĩa và đúng ý nghĩa.
Pháp hoa, trong phẩm kinh này, đã giới thiệu Bồ tát Hỷ Kiến dùng định lực thành tựu để đốt các
hương quí cúng dường, nhưng tự thấy cách cúng dường ấy không bằng đốt chính thân mình, chính cánh tay ngà ngọc của mình; thế là Bồ tát tiếp tục cúng dường hương tuệ, hương giải thoát và hương tri kiến giải thoát. Hình thức cúng dường rất giải thoát và trí tuệ này phù hợp với giáo lý truyền thống được kiết tập từ Nikàya.
Phẩm Tương ưng Tế Đàn ( Tương-Ưng-Bộ-Kinh) dạy: Trong các loại tế đàn thì tế đàn bố thí là cao cả; tế đàn giới, định là cao cả hơn, và cao cả hơn hết là tế đàn trí tuệ. Chính trí tuệ giải thoát tự nó là ý nghĩa tế đàn cao cả nhất.
e. Ngọn lửa hỏa thiêu thân và tay của Bồ tát Hỷ Kiến: Thân và tay của Bồ tát là thân và tay của trăm phước đức, những phước đức do trí tuệ thấy “bách như thị”, hay thấy thực tướng “không tướng” của các pháp. Do có mặt trí tuệ này mà Bố tát thiêu cháy hết thảy các ngã tưởng. Ngọn lửa hỏa thiêu ấy rõ thật là lửa trí tuệ vô ngã.
g. Hình ảnh đốt cháy các hương thơm bằng thiền định và hình ảnh đốt thân và tay ngọc của Bồ tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến là một hình thức diễn nói Pháp hoa rất sinh động, rất cảm động, đập mạnh vào tim và óc của thính chúng giúp thính chúng giác tỉnh buông bỏ tham ái và chấp thủ thân ngũ uẩn, và dựng đứng dậy lòng tin hiểu Diệu pháp
nơi thính chúng qua sự việc đôi tay Bồ Tát phục hồi trong thân vàng của Bồ tát. Kinh đã cho tuôn chảy những dòng Pháp hoa kỳ tuyệt!
Hình thức biểu hiện việc cúng dường, tôn kính Phật của Bồ tát Hỷ Kiến vừa chấp nhận quan điểm, chủ trương, hình thức tín ngưỡng tôn thờ xá lợi, vừa chấp nhận chủ trương tôn thờ kinh trí tuệ Kim Cương, đồng thời vừa vượt hẳn ra ngoài và trỗi lên cao hơn hai chủ trương kia: Đoạn trừ ái, thủ mới là đúng chân nghĩa của tôn kính, cúng dường Phật.
h. Vì thế, cùng với tinh thần tín ngưỡng vừa trình bày, kinh Pháp hoa dạy:
“ Năm trăm năm sau cùng của thời kỳ Chánh pháp suy đồi sau khi Như Lai nhập diệt, nếu có tín nữ nào nghe kinh này và làm theo lời dạy của Như Lai trong kinh, người ấy sau này chết sẽ sinh về trên đóa hoa sen nở ra cõi Cực lạc, nơi có Đức Phật Di Đà với chư Đại Bồ tát vây quanh”.
Anh văn:
“The woman who hears this sùtra and acts according to the teachings of it in the later five hundred years after my extinction, will be able to be reborn, after her life in this world, (as a man) on the jewelled seat in the lotus flower blooming in the World of Happiness where Amitàyus Buddha lives surrounded by great Bodhisattvas”.
(Ibid.p.278)
Nghe và tin hiểu kinh Pháp hoa là nghe và tin hiểu rằng hết thảy các pháp là “không tướng”. Do vì sự thật là “không tướng” nên hành giả an trú vào Giới, Định, Tuệ để đoạn trừ tham ái và chấp thủ 5 uẩn, như Bồ tát Hỷ Kiến thể hiện; nếu tại đây hành giả chưa giải thoát, thì sau khi chết sẽ sanh vào cảnh giới Cực lạc, thanh tịnh của Đức Phật A Di Đà, Đức Phật biểu hiện của Giới, Định và Tuệ (vô lượng thọ là ý nghĩa của Định, vô lượng công đức là ý nghĩa của Giới, và vô lượng quang là ý nghĩa của Tuệ).
Công đức để được thác sanh về cõi Cực lạc đúng là công đức thực hành Giới, Định, Tuệ. Và ý nghĩa vãng sinh về Tịnh Độ đúng là chỉ kết quả đoạn trừ tham, sân, si, rửa sạch bụi tham ái và chấp trước dính mắc vào tai, mắt, mũi, lưỡi, thân và ý.
i. Chỉ nghe và hiểu phẩm kinh Dược Vương Bổn Sự, hành giả đã được nhiều công đức ngay trong hiện tại, miệng tỏa hương thơm của hoa sen xanh, lỗ chân lông tiết ra hương thơm của gỗ chiên đàn trên núi Ngưu Đầu như một đoạn kinh viết:
“ Nếu ai hân hoan khi nghe kinh Dược Vương Bổn Sự và tán thán phẩm kinh, thì miệng sẽ tỏa ra hương thơm hoa sen xanh, và các lỗ chân lông tiết ra hương thơm của gỗ chiên đàn trên núi Ngưu Đầu, và hiện tại được nhiều công đức như đã được nói đến”.