Thế Tôn dựng nên cảnh nói Đà-la-ni là những mật ngữ chứa đựng mật nghĩa, thứ ngôn ngữ mà hành giả không còn khái niệm hóa được nữa. Đã là mật nghĩa thì thoát ly ý nghĩa. Đấy là gián tiếp chỉ cho thính chúng thấy có sự thật ở ngoài thế giới ý nghĩa, nó là Diệu nghĩa hay Diệu pháp.
Khi biết những dòng khinh Đà-la-ni là mật nghĩa, thì hành giả dừng tại dòng suy nghĩ tư đầy ngã niệm. Tại đây, hành giả có thể đi ra khỏi ngã tưởng để bắt được thực tướng.
Vấn đề thực tướng, thực nghĩa không phải là vấn đề của nhận thức, mà là của thể nhập của tâm lý là rời khỏi hết thảy tham ái, chấp thủ, vô minh.
Kinh nói lên phẩm Đà-la-ni là kinh muốn đóng cửa tư duy đầy ngã tính để lại đưa hành giả vào những bước nhảy giải thoát của con đường thực hành Giới, Định và Tuệ.
XXVII. PHẨM DIỆU TRANG NGHIÊM VƯƠNG BỔN SỰ (Phẩm thứ hai mươi bảy)
(King Wonderful-Adornment as the Previous life of a Bodhisattva)
1. Thời gian Pháp hoa đến đây hầu như thính chúng đã được nghe đủ những gì cần được nghe. Thính chúng yên lặng không đặt thêm câu hỏi nào về Diệu pháp. Riêng đức Thế Tôn, dù
thu nhiếp về tất cả thần thông của Như Lai lực đã thị hiện, nhưng vẫn còn vài vấn đề phải căn dặn trước khi Ngài vào Niết bàn vô dư y. Thế Tôn đã kể lại một câu chuyện xa xưa liên hệ đến tiền thân của một số chư Bồ tát đang có mặt cạnh Thế Tôn như Bồ tát Dược Vương, Bồ tát Dược Thượng, Bồ tát Hoa Đức và Bồ tát Quang Chiếu Trang Nghiêm Tướng, như để tổng kết lại những gì mà một người mong cầu Phật trí cần phải trang bị cho tâm giải thoát. Phẩm kinh này vẫn có đủ nội dung của " khai, thị, ngộ, nhập Phật chi tri kiến ".
2. Có ý kiến cho rằng các hình ảnh biểu tượng tại đây, phẩm thứ 27, nói lên tư tưởng của Pháp Tướng Duy Thức Tông, như ý kiến của Minh Chính Thiền sư, và của một số nhà nghiên cứu Phật học hiện nay.
Chúng tôi thì không quan niệm như thế, bởi lẽ theo lịch sử tư tưởng Phật học thời kỳ phát triển, Pháp hoa ra đời từ thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch đến thế kỷ thứ nhất sau Tây lịch (300 năm sau thời kỳ Pháp hoa). Lúc Pháp hoa ra đời thì Pháp Tướng Duy Thức chưa có mặt, do vậy mà không thể hiểu phẩm kinh 27 Pháp hoa là xiển dương Bát thức của Duy thức.
3. Tám thái tử con của nhà vua mà về sau xuất gia thành Phật hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh (như một phẩm trước đã đề cập) tên là Hữu Ý (Having Intention), Thiện Ý (Good-Intention), Vô lượng Tăng Ý (Increasing-Intention), Trừ Nghi Ý (Doubts-Removing-Intention), Hướng Ý (Resounding-Intention) và Pháp Ý (Law-Intention) thì không liên hệ gì đến tám thức tâm vương cả. Đây là biểu hiện cho thế giới ý nghĩa của khái niệm (Intention là ý nghĩa, khái niệm) : khái niệm về hữu (như Hữu Ý) ; khái niệm về vô niệm (như vô lượng ý), về chân (như Bửu ý), khái niệm về thật (như Trừ nghi ý), về pháp (như Pháp ý) và về sự toàn vẹn (như Tăng ý).
Đấy là tất cả biểu hiện của tâm thức lúc chưa xuất gia, chưa giác ngộ của nhà vua (nhà kinh gọi là 8 thái tử), bấy giờ vua chỉ có các khái niệm về pháp giới và về thực tại, mà chưa có cái thấy thẳng thực tướng của nó.
Sau khi 8 thái tử xuất gia và giác ngộ Phật pháp, thì tất cả khái niệm ấy rụng đổ để nhường chỗ cho sự ngộ nhập thực tướng của tâm.
Nếu nhìn Pháp hoa dưới nhãn quan Duy Thức thì sẽ đi vào lạc điệu tư tưởng ngay !
Vậy chúng ta hãy trả phẩm kinh 27 này về với dòng mạch Pháp Hoa.
4. a. Ý nghĩa biểu tượng Diệu Trang Nghiêm Vương : (Wonderfull Adornment)
Vua thoạt đầu là tà kiến, sau nhờ hai thái tử Tịnh Tạng, Tịnh Nhãn và hoàng hậu Tịnh Đức chuyển hóa thành Chánh kiến.
Như thế, ý nhĩa chuyển đổi trong lộ trình tu tập giải thoát là chuyển đổi tâm lý từ tâm tà sang tâm chánh, mà không phải là chuyển đổi gọi về cuộc đời bên ngoài. Ý nghĩa là chỉ chuyển đổi tâm thức, chuyển đổi cái nhìn gọi là trang nghiêm tam hay trang nghiêm cuộc đời. Kinh gọi là Diệu Trang Nghiêm. Đây hiện rõ tinh thần diệu hữu của Đại thừa.
b. Tịnh Đức (Hoàng hậu) : là biểu tượng cho Thánh giới uẩn. (Tịnh Đức : Pure Virtue).
Tịnh Tạng (Pure Store) là biểu tượng cho Thánh định uẩn.
Tịnh Nhãn (Pure eyes) là biểu tương cho Thánh tuệ uẩn.
- Tịnh Đức là mẹ sinh hai thái tử Tịnh Tạng, Tịnh Nhãn là ý nghĩa nhân Giới, tu tập Giới, mà sinh Định, nhân Định mà xuất khởi Tuệ.
- Tịnh Đức, Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn chuyển hóa nhà vua là ý nghĩa con đường Tam vô lậu học sẽ chuyển tà kiến sang chánh kiến, chuyển nhiễm thành tịnh, chuyển sinh tử thành Niết bàn.
5. Phẩm kinh 27 này dẫn dắt chúng sinh từ tà kiến, ngoại đạo vào Diệu pháp, nên Đức Thế Tôn dạy trọn đủ lộ trình tu tập cho đến Phật trí.
Con đường dẫn từ mê đến ngộ nhập Phật trí là con đường mà hai thái tử Tịnh Tạng, Tịnh Nhãn tu tập, bao gồm :
- Lục độ Ba-la-mật và phương tiện Ba-la-mật.
- Tứ vô lượng tâm.
- 37 phẩm trợ đạo (Đạo đế của Tứ đế).
Do tu tập như thế mà hai thái tử thành tựu các thiền định của một Bồ tát và chứng nhập Diệu pháp.
6. Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn, gồm cả Tịnh Đức là biểu tượng cho các khả năng Giới, Định, Tuệ có mặt trong nhà vua Diệu Trang Nghiêm, có mặt trong tâm mỗi chúng sinh. Nói khác đi, nguồn giác tính có sẵn ở mỗi chúng sinh.
7. Tịnh Tạng , Tịnh Nhãn thỉnh mời hoàng hậu Tịnh Đức cùng yết kiến Thế Tôn là ý nghĩa Giới, Định, Tuệ gắn liền nhau trên đường vào Phật trí.
8. Chuỗi ngọc của nhà vua và hoàng hậu biến thành đài báu có Thế Tôn ngự ở trên (sau khi cả hai vị đều giác ngộ Diệu pháp ) biểu tượng cho ý nghĩa : Khi tâm còn ô nhiễm thì cuộc đời là thuộc ô nhiễm ; khi tâm giải thoát, thì cuộc đời là cảnh giới thanh tịnh giải thoát.
Hình ảnh chuỗi ngọc trần thế biến thành đài báu giải thoát lờ lững giữa hư không (không tướng) đẹp biết bao ! Cuộc đời bỗng được trang nghiêm kỳ diệu biết bao !
9. Khi vọng tâm được chế ngự bởi tâm giác tỉnh vô ngã thì vọng được chuyển thành chân : Ta bà thành Tịnh độ. Vì vậy phẩm kinh 23 dạy đắc được định " Nhất Thế Tịnh Công Đức Trang Nghiêm".
Những người nghe được phẩm kinh này, có đến 84.000 người, đều đắc Pháp nhãn. Pháp nhãn là con mắt thấy vô ngã tướng của các pháp và thấy tất cả ngã tướng biến mất, là rỗng không ( kinh Pháp hoa thì cắt nghĩa là pháp nhãn tịnh – the eyes purified enough to see all teachings – có trí tuệ hiểu biết Đức Phật dạy trong các kinh).
10. Vua Diệu Trang Nghiêm theo Bà-la-môn giáo trước khi quy hướng Thế Tôn nên bước đường đến Diệu pháp của nhà vua đã trải qua hai giai đoạn thay đổi lớn :
a. Bước chuyển từ tà kiến sang chính kiến : bấy giờ nhờ đến giáo lý phương tiện, khế hợp tâm lý nhà vua mà thuyết phục. Đây chưa nói đến « Nhất thừa ».
b. Khi được chuyển tâm rồi, nhà vua mới được nghe tiếng nói Diệu pháp, tiếng nói từ "Nhất thừa ".