Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa

Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa

Tác giả: Hòa thượng Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 194.

Chương 32: XXVI. Phẩm Đà la ni (phẩm thứ hai mươi sáu) (Trang 173 - 176)

Nếu hành giả hành thuần thục các pháp thiền quán ấy trên cơ sở của Giới và Định, và thể hiện lòng đại từ, đại bi cứu cuộc đời đi ra khỏi khổ đau của vật chất và khổ đau của tâm thức, thì hành giả sẽ viên mãn công hạnh giải thoát, mở ra cánh cửa thể nhập pháp giới. Cánh cửa ấy gọi là Phổ Môn ( Universal gate).
Hành giả chỉ đổi chiều cái nhìn sự vật của mình thì tâm lý sẽ đổi chiều phản ứng từ tham, sân, si qua vô tham, vô sân, vô si, và hành giả sẽ từ cánh cửa kia đi vào pháp giới tánh, thay vì trở lại vòng quay của sanh tử.

XXVI. PHẨM ĐÀ LA NI (phẩm thứ hai mươi sáu)
 ( The Dhàranìs)

1.a. Suốt 25 phẩm kinh, Pháp hoa chỉ giới thiệu con đường giải thoát của Giới, Định, Tuệ, Giải thoát và Tri kiến giải thoát của Tứ đế, Duyên khởi và Ngũ uẩn. Do vậy, phẩm Đà-la-ni, dù với ngôn ngữ của mật chú, cần được nhìn dưới cái nhìn Pháp hoa, cái nhìn minh bạch của Tứ thánh đế, mà không được nhìn như là một phần giáo lý của Mật tông. Bởi vì Nikàya, A hàm và Bát-nhã đều không giới thiệu Mật tông.
b. Các Đà-na-ni của phẩm kinh 26 này chỉ là hình thức yểm trợ cho các thiện nam, tín nữ trong các thời kỳ sau thời kỳ chánh pháp ổn định tâm lý để
tu tập Pháp hoa. Các bài chú chỉ là trợ duyên mà không phải là pháp  môn giải thoát của Pháp hoa.
Phẩm Phổ Môn, Bồ tát Quán Thế Âm thân đi vào cuộc đời để cứu khổ và để giáo hóa, mà không dạy chúng sinh nào trì chú.
Con đường Phật tri kiến là Đạo đế được hành với cấp độ giải thoát của Bồ tát. Tại đây cũng không có mật mã chú nào được đề cập.
c. Thật là không thể hiểu được nếu có ý cho rằng trì mật chú là pháp tổng trì đưa đến vô phân biệt trí, cao hơn cả hạnh của Bồ tát Quán Thế Âm ! Vô phân biệt trí, thực sự là kết quả của thiền chỉ và thiền quán dập tắt các ngã tưởng. Hành giả phải đi từng bước đi giác tỉnh vô ngã dập tắt các ngã tưởng. Dập tắt các ngã tưởng là dập tắt tham ái và chấp trước.
Ngày nay, thừa hưởng được bao nhiêu di sản tư tưởng Phật học, chúng ta cần khởi lên cái nhìn rất là « Diệu Âm »  và rất là « Quán Thế Âm » để liễu hội thực tướng các pháp và liễu hội phẩm Đà la ni này.
2.Tư tưởng
a. Ý nghĩa khích lệ người thọ trì, đọc, tụng, diễn nói và tu tập Pháp hoa :
Trong các phẩm kinh trước, Thế Tôn khích lệ thính chúng bằng cách trợ duyên đánh thức giác tính của thính chúng để thính chúng tự mình tin hiểu
nghĩa « Nhất Thừa » . Sự khích lệ đó trao đến cho toàn thể thính chúng, đặc biệt là các căn cơ đã có một căn bản thực hành Thánh giới uẩn và Thánh định uẩn, và đã có mầm trí tuệ dù chưa vững chắc. Ở phẩm Đà la ni này Thế Tôn gián tiếp để Bồ tát Phổ Hiền và chư Thiên, thiện thần nói lên để khích lệ phàn thính chúng với căn cơ non yếu về Giới, Định và Tuệ, chưa tự mình xây dựng được tin hiểu vững chắc, và cũng để khích lệ các chúng sinh về sau, sau thời Chánh pháp. Vì vậy cần đến tha lực là thần chú để giúp cho các tâm lý cần nương tựa bên ngoài ấy đứng vững, hầu khởi đầu cho các bước đi giải thoát.
b. ý nhĩa của sự ủng hộ vủa Bồ tát Dược Vương.
Đây là công phu tu tập Giới, Định, Tuệ để đoạn trừ tham, sân, si. Công phu đó là phương thức thần hiệu giúp hành giả tiến gần Diệu pháp, đi vào nghĩa « Nhất Thừa ».
Bồ tát Dõng Thí ủng hộ là ý nghĩa của việc bố thí, cúng dường ủng hộ người tu tập Pháp hoa. Nhờ bố thí mà hành giả xả nhẹ dần các tâm tham, và tâm sân, có thêm điều kiện thăng tiến giải thoát để vào Diệu pháp.
Ý nghĩa Tứ Thiên Vương ủng hộ là ý nghĩa công phu hành các thiện sự sẽ giúp hành giả chế ngự các ác tâm, hại tâm, các tâm lý vọng động mạnh, hầu tạo thiện duyên vào sâu định, tuệ giải thoát.
Ý nghĩa các La-sát nữ và quyến thuộc La-sát nữ ủng hộ là ý nghĩa công phu đoạn trừ, xả ly dục ái sẽ giúp hành giả có điều kiện tốt để ngộ và nhập Diệu pháp.
Nếu hành giả các công phu vừa nêu trên, thì nhất định hành giả có điều kiện để ngộ, nhập thực tướng. Nhưng khi hành giả chưa thực sự hiểu rõ và tự mình thực hành các công phu ấy thì niềm tin có các năng lực trên hộ trì qua các mật chú cũng có tác dụng giúp ổn định tâm lý để đọc, tụng, ghi nhớ, biên chép và diễn nói kinh Pháp hoa. Các công phu này sẽ là điều kiện để hành giả liễu hội nghĩa kinh và sẽ đưa hành giả vào con đường thực hiện.
Mặt khác, với tâm lý mong cầu Diệu pháp của hành giả, có thể có sự cảm ứng với các năng lực hộ trì ở bên ngoài tạo cho hành giả một điều kiện thuận lợi đi vào Diệu pháp.
c. Kỹ thuật giáo dục qua phẩm kinh pháp hoa thứ 26 :
Thật tướng vô tướng vốn ở ngoài ngôn ngữ khái niệm và diễn đạt. Thế Tôn đã vận dụng phương tiện khế cơ và thiện xảo trình bày thật tướng và con đường vào thật tướng qua 25 phẩm kinh. Tất cả ngôn ngữ, hình ảnh và phương thức diễn đạt đều biến thành khái niệm của ngã tướng đối với phần thính chúng còn vướng mắc chấp thủ. Vì thế, trước lúc kết thúc thời gian giảng kinh Pháp hoa,
/37
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »