Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa

Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa

Tác giả: Hòa thượng Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 194.

Chương 26: XX. Phẩm thường bất khinh (phẩm thứ hai mươi) (Trang 139 - 142)

XX. PHẨM THƯỜNG BẤT KHINH ( phẩm thứ hai mươi)
( The Never-Despising Bodhisattva)

1. Các danh gọi biểu tượng:
a. Bồ tát Đắc Đại Thế ( Great-Obtainer Bodhisattva) là vị Bồ tát đã đắc đại thần lực, bát giải thoát và lục thông.
b. Bồ tát Thường Bất Khinh (The Never-Despising Bodhisattva) là vị luôn luôn tôn trọng mọi người, luôn luôn nhắc nhở mọi người biết  rằng tự mình có Phật tính và sẽ thành Phật (đây lại là một hình thức thọ ký).
c. Phật Oai Âm Vương ( Power-Voice King): Tiếng nói có đại thần lực bậc nhất: chỉ chân tâm của mỗi người.
d. Nước Ly Suy ( Free-From-Decay): Ly Suy có nghĩa là thoát ly sự hoại diệt, sinh tử.
e. Kiếp tên Đại thành ( Great Achievement)có nghĩa là sự thành tựu lớn, hay đại giải thoát.
2. Tư tưởng
a. Thời gian vô lượng vô biên thuật trong phẩm kinh 20 này là biểu hiện của thời gian như thực của thực tại. Danh xưng của Thế Tôn, tên kiếp và tên nước đều nhằm chỉ cảnh giới của chân tâm.
Đức Thích Tôn, nghiệm ra, là đã đắc Phật trí từ thời còn là ẩn sĩ Thiện Tuệ (Sumedha) và Bồ
tát Thường Bất Khinh. Xa hơn nữa, từ thực tướng mà nhìn thì Ngài đã thành Phật tử vô lượng kiếp, bởi vì thành Phật chỉ là sự kiện trở về lại với thực tướng của chính mình.
b. 20 tỷ Đức Phật có cùng danh xưng Oai Âm Vương: là ý nghĩa 20 tỷ vị trở về cùng một nguồn cội Phật tính.
Vào thời Đức Phật Oai Âm Vương đầu tiên, Ngài chỉ dạy giáo lý Tứ đế, Duyên khởi và Lục độ. Đó là giáo lý đưa đến giải thoát sau cùng.
c. Lời nói lịch sự của Bồ tát Thường Bất Khinh:
“ Tôi rất kính trọng quý vị, tôi không dám khinh khi quý vị. Tại sao? Bởi vì quý vị có thể thành đạo Bồ tát và sẽ thành Phật”.
Anh văn:
“ I respect you deeply. I do not despise you. Why is it? It is because you will be able to practise the way of Bodhisattvas and to become Buddhas”.
                                 (Ibid.p.260)

Bồ tát đã nói câu trên cả tỉ lần suốt đời để nhắc nhở mọi người về khả năng giải thoát, và để đánh tan “ mặc cảm cùng tử” hầu làm hiển lộ Phật tính.
Các phẩm kinh của cảnh thứ hai thuyết giảng Diệu pháp đang đi sâu dần và cụ thể dần trong việc giúp thính chúng nhận rõ con đường Bồ tát là hoàn thành cùng lúc hai mục tiêu tự độ và độ tha.
d. Hạnh Lục độ của Bồ tát Thường Bất Khinh:
- Việc đảnh lễ và nói “ câu nói lịch sử” trên của Bồ tát là hình thức bố thí pháp được thực hiện với quyết tâm loại bỏ chấp thủ tướng là ý nghĩa Bố thí độ.
- Bồ tát trọn đời bám chặt việc làm trên là ý nghĩa Trì giới độ.
- Bồ tát chịu đựng mọi sự xỉ mắng, ngược đãi trọn đời là ý nghĩa Nhẫn nhục độ.
- Tâm Bồ tát không dao động trước các khó khăn và ngược đãi của người nghe là ý nghĩa của Thiền định độ.
- Nuôi dưỡng tâm giác tỉnh vô ngã vì sự giác ngộ của mình và người là ý nghĩa thực hành Trí tuệ độ.
Thành tựu sau cùng của Bồ tát sẽ là Phật tri kiến. Hạnh tu bên ngoài của Bồ tát  Thường Bất Khinh có vẻ đơn giản nhưng kỳ thực là hành đủ Lục độ Ba-la-mật.
Đây là một mẫu hành Bồ tát hạnh điển hình mà Thế Tôn giới thiệu. Kết quả của hạnh ấy là sự thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của Thế Tôn bấy giờ.
e. Sự kiện đọa A-tỳ ngục của các vị Tăng, Ni nhiếc mắng Bồ tát Thường Bất Khinh:
A-tỳ ngục là cảnh giới của đại tà kiến. Những vị tu sĩ Phật giáo mắng nhiếc Bồ tát Thường Bất
Khinh qua lời giới thiệu về Phật tính ấy là thể hiện ba ác hạnh:
- Ác hạnh thứ nhất là biểu hiện tà kiến, bất tín Phật pháp.
- Ác hạnh thứ hai là sân hận.
- Ác hạnh thứ ba là phạm trọng tội đại ác khẩu (trọng tội vọng ngữ).
Tâm của một vị tìm cầu giải thoát như một tu sĩ mà phạm ba ác hạnh trên thì quả là dễ đọa xuống địa ngục A-tỳ. Lời xác định về tội đọa này của kinh vừa có tính chất răn đe, cảnh giác các tu sĩ Phật giáo, đưa các vị về chánh kiến giải thoát. Vì thế nên kinh lại mở ra một lối thoát cho những vị phạm các lỗi lầm trên khi kinh dạy rằng: Những tu sĩ bị đọa ấy về sau lại được Bồ tát Thường Bất Khinh giáo hóa, tương lai của các vị ấy sẽ thành Phật. Những lời lẽ mở lối thoát này lại là hình thức gián tiếp giới thiệu “tội ác” cũng là một pháp và là vô ngã. Vì nó là vô ngã nên mới được chuyển về với chánh kiến. Tại đây, những ai phạm ác hạnh, hay bị ám ảnh bởi các ác hạnh trong những đời trước có thể lại được Thế Tôn xây dựng niềm tin giác ngộ Phật trí cho, nhờ đó mà đánh tan được mặc cảm phàm phu ngỏ hầu có điều kiện tin hiểu nghĩa “ Nhất thừa”.
/37
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »