Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ngũ Phần 2

Luật Ngũ Phần 2

Tác giả: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 198.

Chương 7: PHẦN THỨ HAI. CHƯƠNG I: TÁM PHÁP BA-LA-DI. B. Bất Cộng Giới: VII. Tùy Thuận Bí Xử: a. Duyên Khởi (Trang 24 - 25)

Cùng nói: Cùng nam tử nói chuyện.
Cùng ngồi: Cùng nam tử ngồi một giường một ghế.
Hai thân gần kề: Ngồi một chỗ, khi nghiêng mình thì đụng thân nam tử.20
Nếu phạm việc nắm tay, cho đến hai thân gần kề nhau, mỗi hành động đều mắc Thâu-lan-giá. Nếu phạm bảy việc, tuy đã tùy theo đó sám hối, sau phạm một việc nữa là đủ tám, cũng thành tội Ba-la-di.21
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
VII. TÙY THUẬN BỊ XỬ22
a. Duyên khởi
Bấy giờ Tỳ-kheo Xiển-đà luôn luôn phạm tội, lên giường, xuống giường đều không như pháp, thường ăn nhiều lần, ăn biệt chúng, vào xóm làng phi thời không bạch với thiện Tỳ-kheo. Tỳ-kheo Tăng
 

20 Tám việc, Tứ phần (tr. 716a25): nắm tay, nắm áo, vào chỗ vắng, cùng đứng chỗ vắng, cùng nói, cùng đi, thân dựa nhau, hẹn nhau. Thập tụng (tr. 303c20): cho nắm tay; cho nắm áo; cùng đứng; cúng nói; cùng hẹn; vào chỗ khuất; chờ đàn ông đến; trao thân như nữ bạch y. Căn bản ni (tr. 930c13): 1. trạo cử; 2. đùa giỡn; 3. cười cợt; 4. chỉ định chỗ; 5. hẹn giờ; 6. ước tín hiệu; 7. đi đến chỗ đàn ông; 8. cùng ở chỗ có thể hành sự. Pāli, aṭṭhavatthukā: hatthaggahaṇaṃ, cho nắm tay, saṅghāṭikaṇṇaggahaṇaṃ, cho nắm vạt áo Tăng-già-lê, santiṭṭheyya (…purissa hatthapāse), đứng (trong tầm tay với của đàn ông), sallapeyya (…purissa hatthapāse), nói chuyện (trong tầm tay với…), saṅketam vā gaccheyya, đi đến chỗ hẹn, purissa vā abbhāgamanaṃ, cho đàn ông đến gần, channaṃ vā anupaviseyya, đi theo vào chỗ khuất, kāyaṃ vā tadatthāya upasaṃhareyya, trao thân cho mục đích ấy.
21 Tứ phần (tr. 716b07): phạm trong bảy sự này, nếu không phát lồ sám hối, tội chưa trừ, mà phạm đến việc thứ tám thì phạm Ba-la-di. Pāli, Sớ giải: Phạm đủ tám sự, mất giới Tỳ-kheo-ni. Phạm từ một sự, cho đến bảy sự, dù cho đến trăm lần, vẫn chưa mất giới Tỳ-kheo-ni (yā pana ekaṃ vā vatthuṃ satta vā vatthūni satakkhattumpi pūreti, neva assamaṇī  hoti).
22 Tứ phần, Ba-la-di thứ 8. Pāli, bất cộng giới thứ ba.
 
trao cho pháp Yết-ma không thấy tội.23 Tỳ-kheo-ni chị ông ta là Ưu-ta24 tới lui nói chuyện và cung cấp y thực. Các Tỳ-kheo-ni thấy, nói:
“Tỷ muội! Tỳ-kheo này đã được Tỳ-kheo Tăng hòa hợp trao cho pháp Yết-ma không thấy tội. Các Tỳ-kheo đã không cùng ở chung, không cùng làm việc, không cùng nói chuyện, tại sao nay cô lại tới lui cùng nói chuyện và cung cấp y thực cho ông ta?”
Ưu-ta nói:
“Đây là em tôi, nếu tôi [78c01] không chăm sóc thì ai chăm sóc?”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách rồi đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, hỏi Ưu-ta:
“Cô có thật vậy không?”
Thưa:
“Thật vậy, bạch đức Thế Tôn.”
Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nên sai một Tỳ-kheo-ni thân thiện với Ưu-ta đến chỗ vắng khuyên can: ‘Cô không nên tùy thuận Tỳ-kheo bị Tăng Yết-ma không thấy tội.’ Nếu cô nghe theo thì tốt, bằng không thì nhiều Tỳ-kheo-ni nên đến can. Nếu cô nghe theo thì tốt, bằng không thì Tỳ-kheo-ni Tăng nên đến can.”
 

23 Hán: bất kiến tội yết-ma 不見罪羯磨. Cf. Phần I, Ch. ii, Tăng-già-bà-thi-sa 13. Tăng-kỳ: bất kiến tội cử yết-ma 不見罪舉羯磨. Tứ phần: Tôn giả Xiển-đà bị Tăng cử tội. Thập tụng: Ca-lưu-la Đề-xá 迦留羅提舍 bị Tăng tác yết-ma bất kiến tẫn 不見擯. Pāli: Tỳ-kheo Ariṭṭha bị Tăng xả trí (samaggena saṅghena ukkhitta). Cf. Phần I, Ch. v, Ba-dật-đề 68; Pāli, Pāc. 69.
24 Ưu-ta 優蹉. Tăng-kỳ: Xiển-đà có mẹ 闡陀母, là Tỳ-kheo-ni bênh vực chống lại Tăng. Tứ phần: Tỳ-kheo-ni tên là Úy-thứ 慰次. Thập tụng: Tỳ-kheo Ca-lưu-la Đề-xá 迦留羅提舍 bị Tăng tác yết-ma bất kiến tẫn 不見擯 (bị xả trí, vì không nhận tội); có 7 cô em gái đều là Tỳ-kheo-ni tùy thuận chống lại Tăng. Pāli: Thullanandā a tòng theo Ariṭṭha.
 
/166
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »