Cùng nói: Cùng nam tử nói chuyện.
Cùng ngồi: Cùng nam tử ngồi một giường một ghế.
Hai thân gần kề: Ngồi một chỗ, khi nghiêng mình thì đụng thân nam tử.20
Nếu phạm việc nắm tay, cho đến hai thân gần kề nhau, mỗi hành động đều mắc Thâu-lan-giá. Nếu phạm bảy việc, tuy đã tùy theo đó sám hối, sau phạm một việc nữa là đủ tám, cũng thành tội Ba-la-di.21
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
a. Duyên khởi
Bấy giờ Tỳ-kheo Xiển-đà luôn luôn phạm tội, lên giường, xuống giường đều không như pháp, thường ăn nhiều lần, ăn biệt chúng, vào xóm làng phi thời không bạch với thiện Tỳ-kheo. Tỳ-kheo Tăng
20 Tám việc, Tứ phần (tr. 716a25): nắm tay, nắm áo, vào chỗ vắng, cùng đứng chỗ vắng, cùng nói, cùng đi, thân dựa nhau, hẹn nhau. Thập tụng (tr. 303c20): cho nắm tay; cho nắm áo; cùng đứng; cúng nói; cùng hẹn; vào chỗ khuất; chờ đàn ông đến; trao thân như nữ bạch y. Căn bản ni (tr. 930c13): 1. trạo cử; 2. đùa giỡn; 3. cười cợt; 4. chỉ định chỗ; 5. hẹn giờ; 6. ước tín hiệu; 7. đi đến chỗ đàn ông; 8. cùng ở chỗ có thể hành sự. Pāli, aṭṭhavatthukā: hatthaggahaṇaṃ, cho nắm tay, saṅghāṭikaṇṇaggahaṇaṃ, cho nắm vạt áo Tăng-già-lê, santiṭṭheyya (…purissa hatthapāse), đứng (trong tầm tay với của đàn ông), sallapeyya (…purissa hatthapāse), nói chuyện (trong tầm tay với…), saṅketam vā gaccheyya, đi đến chỗ hẹn, purissa vā abbhāgamanaṃ, cho đàn ông đến gần, channaṃ vā anupaviseyya, đi theo vào chỗ khuất, kāyaṃ vā tadatthāya upasaṃhareyya, trao thân cho mục đích ấy.
21 Tứ phần (tr. 716b07): phạm trong bảy sự này, nếu không phát lồ sám hối, tội chưa trừ, mà phạm đến việc thứ tám thì phạm Ba-la-di. Pāli, Sớ giải: Phạm đủ tám sự, mất giới Tỳ-kheo-ni. Phạm từ một sự, cho đến bảy sự, dù cho đến trăm lần, vẫn chưa mất giới Tỳ-kheo-ni (yā pana ekaṃ vā vatthuṃ satta vā vatthūni satakkhattumpi pūreti, neva assamaṇī hoti).
22 Tứ phần, Ba-la-di thứ 8. Pāli, bất cộng giới thứ ba.