ĐIỀU 96. RA KHỎI BIÊN GIỚI NƠI KHÔNG AN NINH104
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni ra khỏi biên giới đất nước,105 đi nơi có sự khủng bố, cũng không có người cứu hộ, bị kẻ ác cướp đoạt, cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới... cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, ra khỏi biên giới đất nước,106 nơi có sự khủng bố, không có người để nương tựa, đi một mình, Ba-dật-đề”
Ngoài ra như trên đã nói.
ĐIỀU 97. AN CƯ XONG, KHÔNG GỞI GẮM TINH XÁ
a. Duyên khởi
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni an cư tại tinh xá do Tỳ-xá-khư Mẫu làm, an cư xong, không gởi gắm cho ai, bỏ chùa không ra đi. Sau đó chùa bị cháy, có người thấy, đến báo với Tỳ-xá-khư Mẫu, tinh xá bà cất cho Tỳ-kheo-ni đã bị cháy. Tỳ-xá-khư Mẫu liền cho người ở đến cứu chữa, nên chưa cháy hết. Sau đó, các Tỳ-kheo-ni trở về, Tỳ-xá-khư Mẫu hỏi:
104 Tăng-kỳ (tr. 539b4), điều 118; Tứ phần, điều 97; Thập tụng, điều 98. Căn bản ni, điều 103. Pāli, Pāc. 38.
105 Thập tụng 98 (tr. 323b03): A-xà-thế đang đánh nhau với một tiểu quốc ở biên cảnh. Căn bản ni 17 (tr. 1003c05): Vua Vị Sinh Oán (A-xà-thế) chuẩn bị chinh phạt thành Quảng Nghiêm (thành Xá-vệ, nước Câu-tát-la).
106 Tăng-kỳ: Đi đến chỗ hoang vắng mà không theo đoàn buôn (Giới bản: đi đến nước khác mà không theo đoàn buôn đi chung). Tứ phần: Du hành trong nhân gian đến biên giới. Pāli: asatthā cārikaṃ careyya, bản Anh dịch: Du hành mà không vũ khí; nghĩa là không ai bảo vệ. Hoa dịch: du hành mà không theo thương đội. Từ Pāli: sattha có nghĩa là gươm hay vũ khí, cũng có nghĩa là thương đội.