không dám đi một mình qua; hoặc có [80b01] chỗ nghỉ đêm sợ các nam tử mà không dám một mình ngủ các chỗ khác. Các Tỳ-kheo-ni không biết nên như thế nào, đem việc này bạch lên Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp hai bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu có nhân duyên thì cho phép tùy ý đi một mình. Từ nay giới này nên nói nhưa vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, đi một mình, ngủ đêm một mình, lội nước một mình, ở giữa đường một mình đi sau vì nhiễm tâm với nam tử,14 trừ nhân duyên, Tỳ-kheo-ni ấy vừa làm liền phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá”.
c. Thích từ
Nhân duyên: Khi sợ sệt phải chạy, già bệnh nhọc mệt đi không kịp bạn, chỗ nước cạn có cầu đò, chỗ sợ có nam tử, đó gọi là có nhân duyên.
Nếu đi một mình, chỗ không có xóm làng thì nửa do-tuần, chỗ có xóm làng thì từ xóm làng này đến xóm làng kia đều Tăng-già-bà-thi-sa. Nếu đi đằng sau, từ xa trông thấy Tỳ-kheo-ni nhưng không nghe tiếng hoặc nghe tiếng mà không thấy hình đều Đột-kiết-la. Nếu không thấy, không nghe thì Tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu lội nước một mình, mà bề rộng của nước bằng mười khuỷu tay, bề sâu của nước đến nửa đùi vế thì Tăng-già-bà-thi-sa; nếu cạn hơn thì Đột-kiết-la. Nếu ngủ đêm, đưa tay ra phải đụng nhau; nếu tay không đụng nhau thì đầu đêm và nửa đêm Thâu-lan-giá, tướng mặt trời xuất hiện Tăng-già-bà-thi-sa. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
14 Bốn trường hợp Tỳ-kheo-ni không được phép đơn độc một mình: Đi một mình, ngủ đêm một mình, lội nước một mình, ở giữa đường một mình đi sau vì nhiễm tâm với nam tử, gọi là tứ độc. Hán: Độc hành, độc túc, độc độ thủy, ư đạo trung độc tại hậu nhiễm trước nam tử 獨行獨宿獨渡水於道中獨在後染著男子.