Y này nên xả cho Ni Tăng, không được xả cho một, hai, ba vị Tỳ-kheo-ni. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Trường hợp tuy trước nói không dùng nhưng sau y có dư mà nhận thì không phạm.
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Thâu-la-nan-đà thường ra vào trong vương cung của vua Ba-tư-nặc.
Nhà vua nói:
“Đại tỷ, nếu cô có cần gì cứ đến tôi lấy.”
Cô ni nói: “Tôi cần y nặng (áo ấm).”
Nhà vua nói:
“Cô đến hậu cung lấy.”
Cô lại nói:
“Tôi muốn chiếc y khâm-bà-la27 vua đang mặc.”
Nhà vua liền cúng. Các quan cơ hiềm, nói:
“Tỳ-kheo-ni này xuất gia trong pháp vô vi, mặc áo hoại sắc cắt rọc, mà nay tại sao lại đòi xin áo vua đang mặc. Tuy nhà vua không tiếc, nhưng người thọ nhận phải tự lượng chứ. Bọn người này thường nói thiểu dục tri túc mà nay tham cầu không chán, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.”
Khi ấy, Tỳ-kheo-ni Hắc ly-xa được các Ly-xa28 ở Tỳ-xá-ly cung kính cúng dường. Mọi người, nếu ai bị việc quan (thưa kiện)*, có
26 Tứ phần, điều 29. Pāli, Niss. 11.
27 Y khâm-bà-la: Xem cht. 15, Phần I, Ch. iv, Xả đọa.
28 Lê-xa, hoặc phiên âm Ly-xa 離車. Pāli: Licchavī. Chủng tộc Sát-đế-lợi ở thành Tỳ-xá-ly (Skt. Vaiśāli) thuộc Trung Ấn độ, là một bộ phận của chủng tộc Bạt-kì (Skt. Vṛji). Khi đức Phật còn tại thế, họ theo chế độ cộng hòa, nước mạnh dân giàu, sánh ngang với nước Ma-kiệt-đà.