Các Tỳ-kheo-ni nói:
“Cô đừng ưa thích đấu tranh với người khác và cô đừng nói như vầy: ‘Tăng làm việc theo sự ưa, ghét, si, sợ.’ Tại sao vậy? Vì Tăng không làm việc theo sự ưa, ghét, si, sợ. Cô nên bỏ câu nói này thì sống ở trong Phật pháp, an lạc mới được tăng rộng thêm”. Can gián như vậy vẫn kiên trì không bỏ, cho đến câu:
“Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới… cũng như giới trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, ưa đấu tranh35 cùng người khác. Tăng xử đoán việc nọ, lại nói: ‘Tăng làm việc theo sự ưa, ghét, si, sợ.’ Các Tỳ-kheo-ni nói: ‘Cô đừng ưa đấu tranh với người khác. Cô đừng nói: ‘Tăng làm việc theo sự ưa, ghét, si, sợ.’ Tại sao vậy? Vì Tăng không làm việc theo sự yêu, ghét, si, sợ. Cô bỏ lời nói ấy thì sống ở trong Phật pháp, an lạc mới được tăng rộng thêm. Can gián như vậy vẫn kiên trì không bỏ thì, nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián bỏ thì tốt, còn không bỏ, Tỳ-kheo-ni ấy, sau ba lần can gián, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá.”
Ngoài ra như giới trước đã nói.
a. Duyên khởi
Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Chiên-trà Tu-ma-na ưa đấu tranh cùng người khác. Tăng xử đoán việc nọ, bèn giận dữ nói:
“Tôi xả Phật, xả Pháp, xả Tăng, xả Giới làm ngoại đạo. Sa-môn, Bà-la-môn khác cũng có học giới, cũng có tàm quí, tôi sẽ theo họ tịnh tu Phạm hạnh.”
35 Hán: Đấu tránh 鬥諍. Pāli: adhikaraṇa, tránh sự, có 4.
36 Tăng-kỳ: Tăng-già-bà-thi-sa 19. Tứ phần: Tăng-già-bà-thi-sa 16. Thập tụng: Tăng-già-bà-thi-sa 14. Căn bản: Tăng-già-bà-thi-sa 13. Pāli, biệt giới 7.