Xe: Đi các loại xe voi, ngựa, cho đến mang guốc (giày, dép)* đều gọi là xe.179
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
Nếu già, bệnh hay bị cường lực ép buộc, hay trên đường đi…. cho đến ngón chân bị đau, đều không phạm.180
ĐIỀU 142. MANG DÉP DA, CẦM DÙ181
a. Duyên khởi
[94c07] Bấy giờ các Tỳ-kheo-ni mang dép da,182 cầm dù đến các nhà bạch y. Các bạch y cơ hiềm nói:
“Các Tỳ-kheo-ni này đi lại như dâm nữ.”
Các Trưởng lão Tỳ-kheo-ni nghe, bằng mọi cách quở trách… cho đến câu: “Nay Ta vì các Tỳ-kheo-ni kết giới... cũng như trên đã nói. Từ nay giới này nên nói như vầy:
b. Giới tướng
Tỳ-kheo-ni nào, mang dép da, cầm dù đi, Ba-dật-đề.”
Dù: Kể cả dù bằng cỏ.
Dép da: Cho đến chỉ một lớp.
Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
179 Tứ phần: Có bốn loại, cộ bằng voi, cộ bằng ngựa, cộ bằng xe, cộ do người đi bộ. Pāli: yāna, định nghĩa: vayhā, kiệu đi núi, ratha, xe do con vật kéo, sakaṭa, xe tải, sandamānikā, chiến xa, sivikā, cáng, pāṭaṅkī, kiệu.
180 Bản Hán, hết quyển 13.
181 Tăng-kỳ, điều 111 (Giới bản 112)-112. Tứ phần, điều 158. Thập tụng, điều 148. Căn bản ni, điều 157 & 158. Pāli, Pāc. 84.
182 Tứ phần, Ngũ phần, Tăng-kỳ, giống nhau: cách tỉ 革屣. Căn bản ni, điều 158: Thể sắc hài lý 彩色鞋履, giày dép màu sắc. Pāli: upāhana, giày dép (chung các thứ).