b. Giới tướng
Hai Tỳ-kheo-ni nào, cùng có hành vi ác, tiếng xấu đồn vang, lại che giấu tội lỗi cho nhau, xúc não chúng Tăng. Các Tỳ-kheo-ni nói: ‘Tỳ-kheo-ni hai cô, đừng có hành vi ác, tiếng xấu đồn vang, đừng che giấu tội cho nhau, xúc não chúng Tăng. Hai cô nên xa nhau, bỏ hành vi ác, bỏ việc xúc não chúng Tăng này thì sống ở trong Phật pháp, an lạc mới được tăng rộng thêm.’
Hai Tỳ-kheo-ni ấy nói: ‘Chúng tôi không có hành vi ác, không có tiếng xấu đồn vang, không che tội cho nhau, không xúc não chúng Tăng, mà tự Tăng thấy chúng tôi yếu thế, khinh dễ chúng tôi nên nói như vậy.’
Các Tỳ-kheo-ni lại nói: ‘Đừng nói vậy! Tại sao? Vì Tăng không phải thấy các cô yếu thế khinh dễ các cô. Các cô cần phải xa lìa nhau, bỏ hành vi ác và bỏ việc xúc não chúng Tăng này thì sống ở trong Phật pháp, an lạc mới được tăng rộng thêm.’
Khi can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ thì nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián, bỏ thì tốt, [82c01] còn không bỏ, Tỳ-kheo-ni ấy sau ba lần can gián, phạm Tăng-già-bà-thi-sa, cần phải hối quá.”
Ngoài ra như giới trước đã nói. Thức-xoa-ma-na, Sa-di-ni, Đột-kiết-la.
a. Duyên khởi
Bấy giờ, mẹ của Xiển-đà tên là Tu-ma-na, là người có tánh ác. Người thời ấy gọi bà là Chiên-trà Tu-ma-na,34 ưa đấu tranh cùng người khác. Tăng xử đoán việc nọ, lại cho rằng Tăng làm việc theo sự ưa, ghét, si, sợ.
33 Tăng-kỳ: Tăng-già-bà-thi-sa 15. Tứ phần: Tăng-già-bà-thi-sa 17. Thập tụng: Tăng-già-bà-thi-sa 15. Căn bản: Tăng-già-bà-thi-sa 14. Pāli, biệt giới 8.
34 Chiên-trà Tu-ma-na 旃荼修摩那. Chiên-trà, còn gọi là Chiên-trà-la, Chiên-đồ-la, Chiên-đà-la, Skt=Pāli: caṇḍāla, dịch là người ác. Tứ phần: Hắc 黑, Thập tụng: Tỳ-kheo-ni Ca-la 迦羅比丘尼. Căn bản: Thổ-la-nan-đà 吐羅難陀. Pāli: Caṇḍakāḷī.