Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tỏa Ánh Từ Quang

Tỏa Ánh Từ Quang

Tác giả: Thích Thiện Siêu. Năm xuất bản: 2002. Số trang: 359.

Chương 3: 3. Khái quát lịch sử truyền bá Phật giáo tại Ấn Độ (Trang 23 - 35)

KHÁI QUÁT VỀ
LỊCH SỬ TRUYỀN BÁ PHẬT GIÁO TẠI ẤN ĐỘ

          Ánh sáng Phật giáo bắt đầu soi đến nhân gian từ khi đức Thích-ca Thành Đạo dưới gốc cây Bồ-đề.
          Sau khi Thành Đạo Ngài liền tìm đến hóa độ 5 vị Tỷ-kheo lại Lộc uyển, rồi đến 1250 vị tỷ-kheo thường tùy tùng Ngài và vô số Tăng Ni cùng tín đồ khác. Với một tinh thần bình đẳng từ bi khác Bà-la-môn giáo, đức Phật đã nhiếp hóa người rất dễ dàng. Từ vua chí dân, từ nghèo đến giàu, từ hạng tiện dân đến quý tộc, không một hạng nào Ngài bỏ rơi mà không nhiếp hóa. Bởi vậy, trong giáo đoàn của Ngài đủ các tầng lớp xuất gia tu học. Uy danh Ngài và đệ tử mỗi ngày lan rộng nên bên trong đã làm cho những kẻ hiếu danh như ông Đề-bà-đạt-đa mưu phản nghịch, bên ngoài đã làm cho bọn Bà-la-môn tìm kế chống phá. Song rốt cuộc họ đều phải nhượng bộ vì giáo lý viên dung và nhân cách vô thượng của Ngài. Ngài vẫn thản nhiên, phân lãnh đồ chúng đi giáo hóa các phương. Trải qua 45 năm không biết nhàm mỏi. Cho đến ngày cuối cùng, trong rừng Ta-la, Ngài còn ân cần răn dạy và độ cho ông già Tu-bạt-đa-la xuất gia.

Trong thời gian truyền bá này có nhiều đệ tử đã quên mình để truyền bá chánh pháp. Trong số này có Ngài Tỷ-kheo Phú-lâu-na (Purna) dám xin Phật đi một mình đến xứ Du-lê-na lạ lùng, có tiếng hung dữ, để truyền bá, hoặc như Ngài Mục-kiền-liên đã bị ngoại đạo ám hại trên đường hóa đạo trở về v.v...
          Nhờ giáo pháp cao thâm cũng như sự tận tâm cố gắng đó nên mặc dù bị ngoại đạo cản trở, trong thời gian non nửa thế kỷ, đạo Phật đã xây dựng một cơ sở đồ sộ khắp lưu vực sông Hằng, sông A-cách-la: phía bắc đến Tuyết sơn, nam đến xứ Ma-da-đà, đông đến Thuận-bạch (Champa) và tây đến Câu-diệm-di (Kosambi).
          Sau khi Phật nhập Niết-bàn, Ngài Ma-ha Ca-diếp (MahaKassapa) thay Phật thống lãnh Tăng chúng. Đa số hàng vô học (đắc quả) theo Phật mà nhập Niết-bàn, còn hàng hữu học thì buồn bã. Ngược lại có những vị Tỷ-kheo thì vui mừng, như ông Tu-bạt-đà-la đã nói: "Đại Sa môn còn thì ta cứ bị ràng buộc theo những điều tịnh, bất tịnh, nên làm, không nên làm, nay Đại Sa môn mất, ta được tự do, muốn làm thì làm, không muốn thì nghĩ".
          Nhân đó Ngài Ca-diếp liền tập họp 500 Thánh chúng tại núi Thất-diệp-khốt ở thành Vương-xá do A-xà-thế làm ngoại hộ để kiết tập Pháp và Luật
của Phật dạy trong vòng 7 tháng, kể từ đầu hạ an cư tiếp theo năm Phật Niết-bàn. Đồng thời ở chỗ khác, Ngài Bà-sư-ca (Cuspa) cũng chiêu tập hàng vạn Tăng chúng kiết tập Pháp tạng. Nhân đó manh nha chia thành hai bộ phái: Thượng tọa và Đại chúng, để sau này biệt lập hẳn nhau.
          Sau Phật nhật diệt độ 100 năm, Ngài trưởng lão Da-xá, qua nước Tỳ-xá-ly, nhân nghe phái Tỷ-kheo xứ Bạc-kỳ ra 10 điều luật mới (mà về sau phái Thượng tọa cho đó là 10 điều phi pháp) nên mở hội cùng thảo luận ráo riết, rốt cuộc 10 điều đó vẫn được phái Bạt-kỳ khư khư bảo thủ, lại được vua nước Ma-kiệt-đà là Ca-la A-dục binh vực. Ngài Da-xá trước sự tình ấy, liền họp 700 Tăng chúng tuyên bố 10 điều kia là phi pháp và kiết tập Pháp tạng lần thứ hai. Do vậy hai bộ phái thành hình rõ rệt, rồi mỗi ngày vì càng cách xa Phật, vì nhân tâm biến đổi, địa thế bất đồng, ở trong cơn loạn lạc đó, đoàn quân của Á-lịch-sơn đại vương từ Hy Lạp tràn vào Ấn Độ, nên hai bộ phái này lại lần nữa chia thêm ra 18 bộ phái cùng với 2 bộ gốc thành 20 bộ. Đây là sự biến đổi lần thứ nhất trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ. Trong thời gian độ 100 năm này, bên trong thì có Ngài luật sư Mục-kiền-liên tử và pháp sư Ưu-ba-cúc-đa tận lực truyền trì luật pháp, bên ngoài sau khi đoàn quân của Á-lịch-
sơn đại vương tuy rút đi nhưng sự liên lạc giữa người Ấn Độ và người Ai Cập, Hy Lạp vẫn còn, nên Phật giáo không những chịu ảnh hưởng từ nghệ thuật Hy Lạp để tạo thành nghệ thuật riêng cho mình mà còn truyền bá giáo lý Phật giáo vào hai nước kia. Phật giáo thời này như vậy kể ra có phần phát triển song vì còn chấp chặc hình thức truyền thống địa phương, thậm chí bảo thủ tư tưởng bộ phái nên sự lưu truyền vẫn còn ở các địa hạt như xưa.
          Đến thời A-dục vương triều Khổng tước, nghĩa là sau Phật nhập diệt trên 200 trăm, trong Phật giáo lại có biến đổi lần thứ hai. Khác với lần biến đổi trước thuộc phạm vi tranh cãi về giáo luật, lần này cũng nghe họ tranh cãi về 5 sự (Du sở dụ, vô tri, do dự, tha linh nhập, đạo nhân thanh cố khởi) của ông Tỷ-kheo Đại Thiên. Nghĩa là tranh cãi về phạm vi giáo lý và A-la-hán, về ý nghĩa thành tựu của quả vị A-la-hán. Phái đa văn thì tôn trọng ông là bậc Đại thừa Bồ-tát và công nhận 5 sự kia, trái lại phái Đại đức thì cho ông là kẻ ngoại đạo lẫn lộn trong Phật giáo, là kẻ phạm tội nghịch và công kích 5 sự kia, trong chúng lại có nhiều kẻ ngoại đạo xen vào lộn xộn khiến nhiều năm chúng Tăng không Bồ-tát được. Vua A-dục đã phát tâm hộ pháp gạn lọc thánh phàm. Kết quả là lần kiết tập thứ ba được triệu tập tại thành Hoa Thị xứ trung
Ấn (kinh đô của đế quốc Ấn Độ) dưới sự chủ trì của Trưởng lão Tỷ kheo Mục-kiền-liên-tử-đế-tu, cộng với sự ủng hộ triệt để của vua A-dục.
          A-dục là một ông vua Phật tử có công lớn trong lịch sử truyền bá Phật giáo, hơn nữa là một vĩ nhân trong lịch sử nhân văn của thế giới. Trước khi đầu Phật ông là một ông vua thông minh, đảm lược hợp với tánh tàn bạo độc đoán (vì ác, nên người sau gọi là Chiên-đà-la A-dục) đã nối nghiệp ông nội và phụ hoàng, mở rộng đế quốc Ma-kiệt-đà thống nhất lãnh thổ Ấn Độ dồn các tiểu quốc Ấn Độ về dưới sự cai trị của mình, làm cho các lân bang thấy vậy khiếp sợ. Nhưng sau nhờ gặp Tỷ-kheo Bi-cu-đà giáo hóa cho, liền hối hận về tội lỗi đã gây ra chiến tranh và giết hại hàng triệu sanh linh, nên qui đầu theo Phật, trở thành một ông vua nhân từ, không còn dùng uy quyền để sát hại mà lại dùng uy thế ấy để truyền bá Phật pháp trong nhân dân (vì vậy người sau gọi là Đạt-ma A-dục). Ông thường ban hành các Sắc dụ khuyên nhân dân thực hành Phật pháp, khắc ghi lời Phật dạy vào các trụ đá để kỷ niệm các nơi Phật tích và dựng khắp nơi để truyền bá rộng rãi lời Phật trong dân chúng. Xây 84.000 bảo tháp để tôn thờ Xá-lợi, lại cho em ruột là Tỳ-địa-du-ca, con trai là Ma-hê-đà (Mahinda) con gái là Tăng-già-mật (Sanghamita)xuất gia qua Tích Lan (Sư Tử quốc, Đồng Diệp),
Để truyền bá Chánh pháp và các Ngài Mahajna và Sahadeva qua các xứ gần Hy-mã-lạp-sơn. Ngài Sama và Indra qua Miến điện. Các xứ Cận đông như Syria dưới thời vua An-tochus II, Ai Cập (Egypte) dưới thời vua Ptolémée IV, Macédoine dưới thời vua Antogono Goratras, Epire dưới thời vua Alexandre, Magas dưới thời vua Cyrène (cứ theo vua đá số của vua). Đồng thời với sự truyền bá mãnh liệt và có phương pháp ấy, lại có những vị Cao Tăng như Ngài Đàm Vô đức, Mục-kiền-liên-tử-đế-tu lo chỉnh đốn nội bộ, nên Phật giáo thời này cực thịnh gây được ảnh hưởng cả bề sâu lẫn bề rộng trong dân chúng. Phật giáo về trước lưu hành ở chung quanh lưu vực sông Hằng và Kha-cách-la, nay vượt biên cương truyền khắp lãnh thổ Ấn Độ và lan đến các nước ngoài trị quyền của nhà vua. Qua thành tích công nghiệp và nội dung những sắc lệnh của vua A-dục như: "Này các người, đây là bản chất và cội rễ của chúng ta: phụng sự tôn giáo của mình và không làm giảm giá trị hay mạt sát các tôn giáo khác". Và "các Tỷ-kheo sẽ thuyết pháp cho các người Bà-la-môn, cho các Tướng sĩ, cho các giòng họ Sát-đế-lỵ, Tỳ-xá, Thủ-đà-la, cho tất cả mọi người ở các đẳng cấp. Các người sẽ thành đạo trong khắp các cõi trong đất nước" v.v... Nhà sử học Gustave Lebon trong cuốn Les Civilisations de I'Inde đã nêu lên và ca ngợi 3 đặc
điểm của sắc lịnh ấy như sau:
          1. Một lòng từ bao la rộng rãi bao trùm mọi người mọi vật cho đến loài muôn thú.
          2. Một tinh thần bình đẳng hoàn toàn, khuyên răn tất cả mọi người ở tất cả mọi đẳng cấp nên học và tu các thiện nghiệp.
          3. Một lòng tôn trọng đối với tất cả các tôn giáo.
          Nhà văn hào Masson Oursel đã phải tán thán" "Vua A-dục không những là một đế vương hùng cường nhất Ấn Độ mà còn là một bậc hiền nhân đàn anh của nhân loại".
          Sau khi vua A-dục qua đời, phương nam có Ma-hê-đà (Mahinda) truyền Phật giáo đến nước Sư-tử (tức là Tích Lan ngày nay) được quốc dân sùng bái nhiệt liệt, nên thêm một lần nữa kiết tập đã được tổ chức tại nước này và dùng văn Pà-li để chép Tam-tạng, làm nơi căn cứ của hệ thống Phật giáo nam phương sau này.
          Phương bắc, có Trưởng lão Mạc-điền-địa (Majjhantika - Thera)truyền Phật giáo và 2 nước Ca-thấp-di-la, Kiền-đà-ra, (Kasmìra Gandhàra) cảm hóa hàng vạn triệu người theo Phật. Ngài Đại-lặc (Mahàrakita) khi truyền đạo vào vùng Yona tây bắc Ấn thuộc đế quốc Hy Lạp (Ionians, Baktrian Greek) đã giảng kinh Ca-la-ra-ma (Kàlakàrama-sutta) khiến cho dân cư ở đó đều thấm nhuần Phật
giáo, về sau vào những năm 153 trước Tây lịch ở vùng này có vị vua Di-lan-đà (Millinda) rất thâm tín và ủng hộ Phật giáo. Những đạo lý thảo luận giữa ông và Tỷ-kheo Nàgasena - Thera, được chép lại thành sách có tên là Millinda Panha (Pali).
          Thời này kéo dài đến 600 năm sau Phật nhập diệt, tức là lúc các bộ phái cùng nhau ly, hiệp, biến, hóa đến cực điểm, lại là lúc đế quốc Ma-kiệt-đà bị vua Ấn đạt-la ở nam Ấn lật đổ, lập nên An-đạt-la vương triều, Bà-la-môn thừa cơ hoạt động lấn át Phật giáo, nên đa số Tăng đồ miền Bắc Ấn đi qua nước Đại-nhục-chi gặp được Ca-nị-sắc-ca (Kaniska) là một ông vua ủng hộ Phật giáo không kém vua A-dục, chiêu tập 500 vị đại đức kiết tập Pháp tạng lần thứ 4 tại nước Ca-thấp-di-la vào những năm 150 sau Tây lịch (nếu kể lần kiết tập tại Tích-lan vị chi 5 lần) để dung hòa các mối quan kiến giải dị đồng của bộ phái, lần này một tác phẩm mới vĩ đại - Luận Tỳ-bà-sa 200 cuốn - xuất hiện, tóm thâu hết thảy kiến giải xuất sắc vào trong ấy. Do đó trung tâm Phật giáo nay lại đổi sang tây bắc Ấn chứ không phải là trung tâm Ấn như trước nữa.
          Trải qua thời gian 600 năm sau Phật nhập diệt, Phật giáo có 4 kỳ kiết tập như trên. Nhưng 2 kỳ đầu chỉ nhóm chúng tụng lại lời Phật dạy cho nhớ mà thôi, mãi đến kỳ tập kiết sau mới dùng văn tự
chép thành kinh điển. Kết quả thành 2 lối văn: Pàli và Phạn văn. Nhờ đó Phật gióa còn lưu truyền đến ngày nay hầu khắp thế giới và trong hai kỳ kiết tập đầu, thiên về giới luật và hai kỳ kiết tập sau lại thiên về giáo lý, nhờ vậy thánh điển truyền đến ngày nay đầy đủ cả hai phần giới luật và đạo lý.
          Tóm lại, trong khoảng 600 năm sau Phật nhập diệt là thời gian Nguyên thủy và Tiểu thừa Phật giáo chiếm quyền ưu tiên tại Ấn Độ. Ta có thể chia thời gian này làm 3 thời kỳ như sau:
          1. Thời kỳ thứ nhất: Khoảng 100 năm sau Phật nhập diệt. Thời gian này nhờ ảnh hưởng cảm hóa của Phật còn mạnh, các đệ tử chỉ một mặt tuân theo Phật chế, chưa có điều gì xảy ra, ấy là thời thuần túy.
          2. Thời kỳ thứ hai: Khoảng từ 100 năm đến 400 năm sau Phật nhập diệt. Trong thời gian này bộ phái chia ráo riết, tuy đồng một tín ngưỡng, đồng tôn thờ một giáo chủ. Nguyên do chính yếu nhất của sự phân chia là phái bảo thủ thì trọng thực hành còn phái hý luận thích tư biện. Phái bảo thủ chú tâm giữ trong qui luật, còn phái lý luận thì dùng triết lý của Áo nghĩa thư đã ảnh hưởng sâu đậm trong giới trí thức Ấn Độ, học giáo lý để mượn về chú giải Áo nghĩa thư làm cho chánh tà hỗn tạp nên phái này chú ý đến đạo lý nhiều hơn.
Cả hai phái thành biệt lập, không thể hòa hợp lại ấy là thời kỳ phân chia bộ phái.
          3. Thời kỳ thứ ba: khoảng từ 400 đến 600 năm sau Phật nhập diệt. Vì lẽ không hợp nhau nên mỗi bên đều cực lực phát huy những điều sáng lạn, phát huy những tư tưởng Đại thừa bấy lâu tiềm ẩn để tạo thành nền Phật giáo Đại thừa, còn Tiểu thừa ở Ấn Độ thì từ đây lặn xuống. Mãi đến 700 năm sau Phật nhập diệt, có Ngài Ma-lê-bạt-ma (Harimarman) ở bắc Ấn viết bộ luận [Thành thật], phát huy đạo lý nhân không, pháp không có ý tổng hợp giáo lý Đại thừa, Tiểu thừa giáo tại Ấn Độ. Ấy là thời kỳ hết phân chia chung kết Tiểu thừa.
          Riêng về Đại thừa, thì kể ra có triệu chứng phục hưng từ lần kiết tập thứ 3 để phán định năm sự của ông Đại Thiên. Nhưng mãi đến khoảng 600 năm sau Phật nhập diệt, Ngài Mã Minh ra đời ở bắc Ấn, tác thành bộ luận Khởi tín, vua Ca-nị-sắc-ca ủng hộ truyền bá, tiếp đó 100 năm sau có ngài Long-thọ ra đời ở nam Ấn (xứ Barar) làm luận Trung quán, luận Thập nhị môn, luận Trí độ, đề xướng Không tôn, rồi truyền cho đệ tử là Long Tri và Đề-bà, nối nghiệp giảng luận tạo ra Bách-luận, phá tà hiển chánh, nên Đại thừa được phát dương mạnh mẽ (Phật giáo truyền vào nước ta thời này).
          Sau Ngài Long Thọ 200 năm, có Ngài Vô Trước, sanh từ bắc Ấn, sau đến trung Ấn, xướng lý
Đại thừa Duy thức và em là Thế Thân, trước theo Tiểu thừa làm luận Câu xá, sau trở lại Đại thừa cùng với anh cực lực phát huy Duy thức. Do đó đại thừa phát đạt. Khoảng 1000 năm sau Phật nhập diệt có nhiều vị Đại đức, Luận sư ra đời, truyền bá giáo lý. Đến đây Ấn Độ gồm đủ Không tôn và Hữu tôn, khiến Bà-la-môn khó bề thực hiện cái mộng phục hưng của họ.
          Nếu kể tiếp theo 2 lần biến đổi trước, thì lần thứ 3 vào thời kết tập thứ 4, luận Tỳ-bà-sa xuất hiện, lần thứ 4 vào thời Mã Minh, Long Thọ và lần thứ 5 vào thời Ngài Vô Trước, Thế Thân ra đời. Trong sự biến đổi này, hai lần trước có tính cách phân chia bộ phái và chấm dứt sự phân chia tiểu thừa, lần thứ 4 đại thừa Không tôn xuất hiện, qua lần thứ 5 đại thừa hữu tôn ra đời. Phật giáo thời này là thời cực thịnh nhất.
          Nhưng mãi đến khoảng 1500 năm sau Phật nhập diệt, bên trong vì nghĩa học kém suy, đa số Tăng đồ chỉ chuộng Mật tôn và hình thức, bên ngoài Ba-la-môn được cơ hội phục hưng, bài xích Phật giáo. Lại có, Hồi giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ (Turquie) xâm nhập Ấn Độ (1018 sau TL) dùng thủ đoạn khốc liệt gia hại Phật giáo, đập chùa phá tháp, áp bức Tăng Ni nên Phật giáo phải bị suy vi hầu như tuyệt tích. Lịch sử Phật giáo Ấn Độ tuy
chấm dứt nơi đây, song cũng như lúc Phật giáo Ấn Độ bắt đầu suy tàn thì Phật giáo các nước khác lại hưng thịnh, chẳng hạn như Phật giáo ở Trung Hoa thời này rất là thịnh cường rực rỡ. Thời gian trôi qua, ngoại trừ mấy ngôi cổ tháp Phật tích, Phật giáo có thể nói không còn lưu hành trên đất Ấn Độ. Mãi đến thế kỷ XIX, nước Anh cai trị Ấn Độ, do đó người Châu Âu tới lui nghiên cứu văn học Ấn Độ mà trong đó có Phật giáo. Họ đã tìm thấy giá trị cao quý của Phật giáo đối với hạnh phúc của nhân loại, nên xôn xao khen ngợi làm cho người Ấn sực tỉnh lại, nhận ra rằng của quý của dân tộc lâu nay bị chôn vùi trong quên lãng, nên họ liền hô hào: "Phục hưng Phật giáo".
          Rayendrachililala tiên sinh là một học giả Phật giáo, xuất hiện giữa phong trào nghiên cứu văn hóa Ấn Độ của người Tây Âu. Ông căn cứ vào 144 loại hình Phạn bản ở Népal, làm ra cuốn "Népal Phật giáo bổn" (Thelita-Sanskrit Buddhist literature of Népal) và cho xuất bản cuốn "Tiểu phẩm Bát-nhã" vào năm 1888. Ông là người có công đối với sự nghiên cứu Phật giáo.
          Năm 1893 Sarat Chandrodas tiên sinh lại đề xướng tên hội "Nghiên cứu Thánh điển Phật giáo Ấn Độ và nhân loại học thuật". Người Ấn càng bị kích thích về vấn đề nghiên cứu Phật giáo.
Năm 1891 hội đại Bồ-đề được thành lập mà người khởi  và có công nhất là Ngài Dhammapala. Hội này có thế lực trong việc vận động phục hưng Phật giáo Ấn Độ hiện thời. Có chi hội đặt tại Nữu Ước, Luân Đôn v.v... xuất bản Nguyệt San [The MahaBodhi Buddhism] để truyền bá Phật giáo khắp Âu Mỹ. Rồi đến "Toàn Tích Lan Phật giáo Đại hội" (1918) "Toàn Ấn Độ Phật giáo Đại hội" (1928) trước sau thành lập dựa trên một mục đích "Chấn hưng Phật giáo".
          Gần đây, Phật giáo Ấn Độ trỗi dậy mạnh mẽ trở lại. Hội "Phật giáo thế giới" thành lập tại Tích Lan, mở đại hội nghị Phật giáo thế giới lần thứ nhất vào năm 1950, gồm 500 đại diện và thông tín viên của 15 quốc gia Phật giáo tham dự. Tất cả các nước này đều trở thành chi hội của Phật giáo thế giới. Sau đó,ông Hội trưởng của hội là bác sĩ Malalasckera đã lần lượt đi thăm các chi hội. Hội nghị của hội mở lần thứ hai tại Nhật Bản năm 1953, và sau đó còn nhiều hội nghị tiếp tục mở ra cho đến nay. Hội đã xuất bản hai tờ báo: "New Letter và The Buddhist Word" chuyên đăng các tin tức và bài giáo lý phát hành khắp các nước. Vào khoảng 400 triệu người đã có 115 triệu tín đồ Phật giáo. Đây là một vinh quang lớn cho Phật giáo khắp thế giới vậy.
/111
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »