phá sạch hữu lậu phiền não (Tái sinh lậu: Bhavasava), chứng được Thiên-nhãn-minh (Cutusppatanana) thấy tất cả chúng sinh tạo nhơn quả trong thế giới lớn nhỏ trong vũ trụ. Cuối đêm, nhờ trí tuệ kiên cường, thấy rõ pháp Tứ đế dứt sạch phiền não vô minh lậu (Arjjosava), chứng được Lậu tận minh (Asavak-khayanana) diệt sạch nguồn gốc mê lầm.
IV. Đức Phật Thành Đạo:
Đến khi sao mai vừa mọc Ngài hoát nhiên đại ngộ thành bậc Vô thượng giác. Ngài tuyên bố: " Ta lang thang trong vòng luân hồi qua bao kiếp sống, tìm mãi mà chẳng gặp kẻ làm nhà. Đau khổ thay kiếp sống cứ tái diễn mãi! Hỡi kẻ làm nhà! Nay ta đã tìm được ngươi rồi, ngươi không còn làm nhà được nữa. Bao nhiêu rui mè của ngươi đều gãy cả, kèo cột của ngươi tan vụn rồi. Trí ta đã đạt đến vô thượng Niết-bàn, bao nhiêu dục vọng Ta đều dứt sạch hết". Quả đất rung động, trời người hoan ca. Lúc ấy Ngài vừa tròn 35 tuổi, nhằm ngày trăng tròn tháng Vesaka Ấn Độ.
Ngày nay ở phía Nam thành Bát-na (Patna) chừng 110 cây số có rừng Già-gia (Gaya), xa thành ấy 13 cây số có linh địa gọi là Phật-đà-già-gia (Buddhagaya) tức là chỗ đức Thích-ca thành Đạo.
Núi Già-gia tiếng Phạn là Gayasirsa, Trung Hoa dịch là Già-gia, Già-xà, Yết-xà, Khi-lị-xa, dịch nghĩa là Tượng Đầu sơn (chót núi như đầu voi). Từ khi đức Thích-ca thành Đạo tại đó thì chỗ ấy đổi tên là Phật-đà-già-gia. Còn cây Tất-bát-la, đổi tên là cây Bồ-đề (cây Giác ngộ), cây này đến nay vẫn còn.
Đức Thích-ca thành Đạo rồi, Ngài lặng im suốt bảy tuần lễ (có chỗ nói bốn tuần) để hưởng thọ Pháp lạc tối thượng của Đạo quả Niết-bàn mà Ngài vừa chứng ngộ. Trong lúc đó có hằng hà sa số vị Bồ-tát ở mười phương thế giới và chư Thiên đến chúc tụng cúng dường. Phật rất thương xót than rằng: "Lạ thay mọi loài chúng sinh đều có trí tuệ đức tướng Như Lai, chỉ vì bị vọng tưởng vô minh che lấp không Giác ngộ được", và ý tưởng sau đây đã hiện lên nơi Ngài:
"Giáo pháp Ta vừa chứng ngộ được rất cao siêu huyền diệu, thuần một tánh bình đẳng từ bi, vô ngã vô tướng, còn chúng sanh thì tánh vốn hẹp hòi ích kỷ, chấp ngã chấp pháp, dục vọng đầy dẫy, nghiệp chướng sâu nặng làm sao hiểu nổi. Nếu cứ đem Giáo pháp này ra truyền dạy thì chắc chúng sinh sẽ mơ màng không hiểu, không tin, không lãnh hội được, rồi trở lại hủy báng khinh rẻ, mang lấy
tội lỗi đáng thương". Phật nghĩ như vậy nên do dự chưa muốn đi thuyết pháp.
Bấy giờ Ma vương đã không quyến rũ được Phật trước khi đắc Đạo, lần này thấy Phật đang do dự việc hoằng dương Chánh pháp, nó chen vào yêu cầu Phật sớm nhập Niết-bàn an nghỉ bằng những lời lẽ giả trá: "Bạch Ngài, Ngài đã biết đường thoát thân sao Ngài còn chậm trễ ở cõi này?Ngài thổi đèn đi, làm cho ngọn lửa tắt đi, đã đến lúc rồi sao Ngài chưa nhập Niết-bàn? Chúng sinh ngu muội lắm không thể cứu độ được đâu".
Nhưng đức Phật trả lời: "Không, Ta chưa tắt ngọn đèn, Ta chưa nhập Niết-bàn đâu. Ta còn kiếm các đệ tử truyền đạo, để cho họ tiếp tục truyền cho người khác. Này Ma vương, ta quyết dùng lời nói và hành động làm cho những kẻ can cường trở nên thuần hậu. Bao giờ người trần thế chưa gặp Phật, bao giờ Phật chưa phổ cập sự lợi ích ra đều, thời Ta chưa nhập Niết-bàn".
Ma vương nghe nói hổ thẹn quay đi. Đức Phật đang ngồi dưới cây Bồ-đề thình lình có luồng gió mạnh thổi tới, kế đến một đám mưa đổ xuống lạnh lẽo thấu xương. Vua loài rắn Naga tên Mục-chân-lân-đà (Mucalinda) liền rời khỏi động lấy lốt mình quấn chung quanh Phật bảy vòng và giương cao
bảy chiếc đầu che lên trên Ngài, nên trọn bảy hôm ấy Ngài không bị ướt lạnh gì cả.
Tiếp đó có đoàn xe năm trăm cổ từ xứ Ukala (có chỗ ghi là Hastinpour) thuộc miền Nam chở hàng hóa lên miền Bắc vừa đến địa phận làng Ưu-lâu-tần-loa thì có nhiều xe trục trặc không đi được. Hai người lái buôn chủ đoàn xe tên Đề-lê-phú và Bạc-lê-ka (Tripussa và Bhallika) xuống xe rảo bước đi tìm nguyên do, bỗng trông thấy Phật đang tĩnh tọa dưới gốc cây Bồ-đề, hào quang tỏa sáng như mặt trời ban mai.
Hai người đem lòng cung kính dâng Phật món ăn. Phật đang do dự tự hỏi phải làm thế nào để nhậu món ăn cúng dường, thì bốn đại Thiên vương liền hiện đến dâng cho Ngài một cái bình bát bằng đá. Hai người liền để đồ ăn vào bình bát dâng Phật. Phật ban ít lời khích lệ và ban phúc lành cho họ bằng câu: "Ai bố thí đều được thu hoạch lợi ích. Nếu vì vui bố thí, chắc sẽ được an vui". Họ liền xin qui y Phật, Pháp. Phật thâu nhận họ làm đệ tử đầu tiên và cho họ ít sợi tóc và móng tay để làm kỷ niệm. Vua trời Phạm thiên (Brahma-Sahampati) thấy Phật đang do dự trong việc đi truyền đạo, hiện xuống cầu Phật mở rộng cửa chân trích cho chúng sinh nhờ.