Bọn ta cũng nên nghe theo Phật pháp mà tuyên dương khai hóa".
Lúc ấy Đại Ca-diếp nói lời ấy xong, Ngài đi đến trên đỉnh núi Tu-di đánh kiền chùy, rồi thuyết:
"Các đệ tử Phật,
Muốn nghĩ đến Phật,
Muốn báo ân Phật,
Chớ vào Niết-bàn".
Âm thanh kiền chùy và tiếng nói của Đại Ca-diếp vang đến khắp cả ba ngàn Đại thiên thế giới, ở đâu cũng nghe, thời bấy giờ các đệ tử đã được thần lực, đều đến hội họp ở chỗ Đại Ca-diếp.
Bấy giờ Đại Ca-diếp cáo với chúng hội: "Phật pháp sắp muốn diệt! Phật vì thương xót chúng sanh nên chịu cần khổ đủ thứ trong ba vô số kiếp mới học được pháp ấy! Nay Phật đã vào Niết-bàn, các đệ tử biết Pháp, thọ trì Pháp, tụng đọc Pháp cũng theo Phật mà diệt độ. Pháp nay sắp muốn diệt, chúng sanh đời vị lai thật đáng thương thay, đã bị mất con mắt trí tuệ, ngu si mù tối. Đức Phật đại từ bi thương xót chúng sanh, bọn Ta hãy vâng theo lời Phật, phải đợi đến khi kiết tập Kinh tạng xong, rồi tùy ý diệt độ".
30. A-nan sám hối: Bấy giờ Đại Ca-diếp chọn được ngàn người, chỉ trừ A-nan, còn hết thảy đã chứng A-la-hán, được sáu thứ thần thông, được cọng giải thoát, vô ngại giải thoát, được ba minh,
thiền định tự tại, có thể thuận hành và nghịch hành các tam muội, thảy đều vô ngại, cũng đọc biết cả mười tám thứ đại kinh của ngoại đạo. Ai nấy đều giỏi luận nghị, hàng phục các dị học.
Bấy giờ có vô số A-la-hán như thế, cớ gì chỉ chọn lấy ngàn người, mà không chọn lấy nhiều hơn?
Vua Tần-bà-ta-la đắc Đạo, tám vạn bốn ngàn quan thuộc cũng đều đắc Đạo. Lúc ấy vua sắc trong cung thường dọn bữa cúng dường cho một ngàn người. Vua A-xà-thế vẫn không bỏ pháp ấy. Bấy giờ Đại Ca-diếp tư duy: "Nếu chúng ta thường đi khất thực sẽ có ngoại đạo cưỡng đến nạn vấn mà bê trễ pháp sự. Nay trong thành Vương Xá thường dọn thức ăn cung cấp cho một ngàn người, chúng ta có thể ở trong đó, kiết tập Kinh tạng"; vì lẽ chỉ chọn một ngàn người, không chọn nhiều hơn.
Lúc ấy Đại Ca-diếp cùng với một ngàn người đi đến trong núi Kỳ-xà-quật, thành Vương Xá, nói với vua A-xà-thế: "Thưa Đại vương, hằng ngày ngài hãy sai người đem thức ăn đến cung cấp cho chúng tôi, nay chúng tôi ở đây kiết tập Kinh tạng, không được đi đâu". Chư vị an cư ở đó trong ba tháng hạ. Trong ngày mười lăm đầu thuyết giới, vân tập hòa hợp Tăng, Đại Ca-diếp vào thiền định, rồi dùng
Thiên nhãn quán trong chúng này đâu ai người chưa dứt sạch phiền não, phải nên mời ra. Thấy chỉ có một mình A-nan chưa dứt hết phiền não, còn chín trăm chín mười chín người kia đều đã sạch hết các lậu, thanh tịnh, không nhơ bẩn. Đại Ca-diếp từ thiền định dậy, lấy tay dắt A-nan ra khỏi chúng, nói: "Nay ở trong chúng thanh tịnh kiết tập Kinh tạng, Thầy chưa sạch hết kiết sử, không nên ở đây".
Bấy giờ A-nan hổ thẹn buồn khóc, tự nghĩ: "Ta hai mươi lăm năm theo hầu hạ Thế Tôn, gần gũi chăm sóc Ngài, chưa bao giờ bị khổ não như thế nào; Phật là Đại đức từ bi, hay ẩn nhẫn". Suy nghĩ xong, A-nan thưa Đại Ca-diếp: "Tôi có đủ sức để đắc Đạo từ lâu, song theo pháp của các đức Phật, vị A-la-hán không thể bị sai khiến hầu hạ hai bên; vì thế tôi giữ lại một phần kiết sử nhỏ nhặt mà không dứt hết đó thôi". Đại Ca-diếp nói: "Thầy còn có tội là: ý Phật không muốn cho người nữ xuất gia, vì Thầy ân cần khuyến thỉnh, Phật mới cho họ xuất gia, vì lẽ đó mà Chánh pháp của Phật chỉ năm trăm năm là suy giảm. Đó là tội Đột-kiết-la (Dumkrta) của Thầy". A-nan đáp: "Tôi thương xót bà Cù-đàm-di. Lại nữa, theo pháp của chư Phật ba đời đều có bốn bộ chúng, sao riêng Phật Thích-ca Văn của ta lại không có!", Đại Ca-diếp nói: "Khi Phật sắp nhập Niết-bàn gần thành Câu-thi-na-kiệt, Ngài đau lưng, trải bốn lớp y Âu-đa-la-
tăng để nằm và nói với Thầy: "Ta cần nước", mà Thầy không cung cấp. Đó là tội Đột-kiết-la của Thầy". A-nan đáp:"Khi đó cả năm trăm cỗ xe băng dòng lội qua làm nước vẩn đục, vì thế nên tôi không lấy". Đại Ca-diếp nói: "Dẫu nước bị đục, thần lực của Phật có thể làm cho nước đục biến thành trong sạch, sao Thầy không lấy? Đó là tội Đột-kiết-la của Thầy. Thầy hãy sám hối đi!" Đại Ca-diếp lại nói: "Phật đã dạy: Nếu người khéo tu tập bốn thần túc, thì có thể sống một kiếp hoặc non một kiếp. Phật khéo tu tập Bốn thần túc, muốn sống một kiếp hoặc non một kiếp đều được, mà sao Thầy làm thinh không thưa lại. Phật hỏi đến ba lần, Thầy vẫn làm thinh không cầu xin Phật trụ thế, đừng vội Niết-bàn. Nếu Thầy thưa với Phật là: Phật khéo tu tập Bốn thần túc, Ngài nên sống một kiếp hoặc non một kiếp! Do vì Thầy, mà Thế Tôn sớm vào Niết-bàn. Đó là tội Đột-kiết-la của Thầy!" A-nan đáp: "Ma che lấp tâm tôi, nên không nói được, chứ không phải tôi có ác tâm mà không thưa Phật". Đại Ca-diếp nói: "Thầy xếp y Tăng-già-lê của Phật mà lấy chân đạp lên. Đó là tội Đột-kiết-la của Thầy!" A-nan đáp: "Khi ấy có gió lớn nổi lên mà không ai giúp tôi cầm y, gió thổi làm y rớt xuống chân tôi, chứ không phải do tôi không cung kính mà giẫm lên y của Phật!" Đại Ca-diếp nói: "Sau khi Phật Niết-bàn, Thầy bày tướng Mã âm tàng của Phật cho người nữ xem, sao