thân của đức Phật đã sinh trưởng tại Tỳ-xá-ly và Ngại thọ giáo với đạo sĩ Aradakalama. Kiếp này thành Phật, Ngài cũng đến Tỳ-xá-ky tẩy trừ mọi bệnh dịch khí đã giết hại rất nhiều dân chúng. Khi được thỉnh đến Tỳ-xá-ly (Vesali), Ngài sai đại đức A-nan tới trước chọn ba cách đi ba vòng thành tụng ân đức của Phật pháp Tăng cho chư Thiên và dân chúng phát tâm trong sạch hướng về ngôi Tam bảo cải ác tùng thiện, đem lòng từ bi thương xót lẫn nhau. Nhờ oai đức Tam bảo và lòng từ thiện phát sinh trong từng lớp dân chúng mà thành Tỳ-xa-ly trở lại bình an như trước.
Để tỏ lòng sùng kính Phật, các tiểu vương xứ Licchavi dâng cho Ngài một khu rừng nằm về phía Bắc thành Tỳ-xá-ly, chính nơi đây Kiều-đàm-di (Gotami) đã xin xuất gia làm Tỷ-kheo-ni đầu tiên trong Tăng hội và cũng chính tại đây, kỹ nữ trứ danh tên Am-ba-bà-di (Ambapali) đã cảm hóa theo Phật, nàng dâng cho Phật một vườn xoài, trong ấy có một ngọn tháp tốt đẹp nằm về phía Đông Bắc thành Tỳ-xá-ly.
18. Phật trở lại Xá-vệ (Savathi): phật và người đệ tử dũng cảm tên Phú-lâu-na (Purna) là con của một thị tỳ, chủ nhà có lòng thương nên cho làm thiếp mới sinh ra chàng. Chàng có bốn anh em trai cùng được ăn học, riêng chàng thông minh hơn,
song người nhà vẫn có ý rẻ rúng. Tuy vậy khi lớn lên chàng đi buôn biển. Một chuyến đi mành (ghe mành), ngoài biển có một bạn phường buôn người thành Xá-vệ, cứ mỗi ngày hai lần sớm và tối đồng thanh tụng những câu kinh câu kệ dạy người ta về đường giải thoát. Hỏi ra mới biết là lời dạy của đấng Cồ-đàm (Gotama), Phú-lâu-na cảm phục lắm, khi trở về nhà hầu thăm Phật, xin Phật độ cho, rồi mỗi ngày thấm dần mùi đạo, sau xin thọ giáo xuất gia, Phật thấy người thông tuệ, thân hành thuyết pháp cho và dạy rằng: "Phép tu hành cốt ở thân vong kỷ". Từ đó Phú-lâu-na mỗi ngày một dốc chí tu hành, không có ý nghĩa gì với sự đời nữa. Một hôm Phú-lâu-na phát nguyện xin sang truyền giáo cho một xứ mọi rợ gần đấy, rợ này có tiếng là dữ tợn lắm, hay hại người. Phật muốn can ngăn, nói rằng: "Người rợ Tô-na-bà-lan-đà (Sronaparanta) hung tợn độc ác lắm. Ngươi đến nơi mà chúng nói độc nói ác, chưởi rủa ngươi thì ngươi nghĩ sao?" - Phú-lâu-na đáp rằng: "Nếu người rợ nói độc nói ác, chưởi rủa con, thời con nghĩ rằng, chắc họ là người lành người tốt, vì họ không đánh con bằng tay, ném con bằng đá". "Nhưng nếu người Tô-na-bà-lan-đá đánh con bằng tay, ném con bằng đá thì con nghĩ sao?" - "con nghĩ rằng họ cũng là người lành người tốt vì họ không đánh con bằng gậy, đâm con bằng gươm". "Nhưng nếu người
ta đánh con bằng gậy đâm con bằng gươm thì con nghĩ sao?" - "Con nghĩ rằng họ vẫn là người lành người tốt vì họ không đánh con đến chết" - "Nhưng nếu họ đánh con đến chết thì con nghĩ sao?" "Con nghĩ rằng họ vẫn còn tốt vì nhờ họ con khỏi phải đau khổ lắm mà thoát được cái bọc thịt thối, là tấm thân ô uế này". Phật bây giờ nói rằng: "Được, Phú-lâu-na, con có tánh nhẫn nhục như vậy, thời con sang đến xứ rợ Tô-na-ba-lan-đà được. Ta cho phép con đi. Con đã được giải thoát nên giải thoát cho người; con đã được tới bờ bên kia, nên dắt người sang cùng, con đã được bình an trong lòng nên giúp cho lòng người sự an bình; con đã đi tới cõi Niết-bàn, nên giúp người cùng tới".
Phú-lâu-na đến rợ Tô-na-ba-lan-đà để truyền giáo không bao lâu người dân thuần lại cả và qui y theo Phật hết.
Tóm lại cứ theo tôn chỉ, tùy cơ thuyết pháp bình đẳng giáo hóa, đức Phật đã không bỏ lỡ cơ hội nào mà không tiếp độ kẻ hữu duyên quay đầu và Chánh đạo. Căn cơ dẫu có sai khác, song ai đã được gặp, thấm nhuần giáo pháp, họ đều hưởng được sự an lành và đem lại an lành cho kẻ khác.
Đức Phật là Đấng đạo sư của Chúng Tăng, nhưng ở giữa chúng Tăng, Phật vẫn tự coi mình
như một Tăng chúng. Sáng dậy sớm, súc miệng, rửa mặt, tới giờ khất thực Ngài khoác áo Cà-sa (Kashaya) tay cầm bình bát cùng các đệ tử chia đi vào các xóm, trải qua từng nhà một khất xin đồ ăn, ai cho gì nhận nấy,đi hành khất xong về tinh xá, đến ngọ mới ăn cơm, mỗi ngày chỉ một bữa. Từ trưa trở đi thì Phật tỉnh tọa và thuyết pháp. Sinh hoạt đều đặn của Phật như thế, Ngài không từ nan một việc gì cho đến làm những việc thông thường của Tăng chúng làm. Một buổi sớm nọ, Phật cầm chổi quét vườn Kỳ Thọ, các đệ tử thấy vậy cũng xóm lại quét. Sau khi quét xong Phật nhóm chúng giảng cho nghe năm công đức của sự quét tước:
1. Tự mình được hoan lạc.
2. làm cho người khác được hoan lạc.
3. Thành hiền hoan lạc.
4. Công đức cũng nảy sinh dễ dàng.
5. Lâm chung sanh vào đường lành.
Có lần gặp bà già muốn xâu kim mà không thấy đường, Ngài thân hành cầm kim xâu giúp. Lần khác Phật và A-nan rảo bước trong tinh xá Cấp Cô Độc, Ngài gặp Tỷ-kheo Girinananda đau nặng bị té nằm trên phân. Ngài vội vã đến đỡ ông dậy và hối A-nan đi xách nước, rồi hai thầy trò xúm nhau tắm rửa cho sạch sẽ, khiêng để trên giường, thay y áo và an ủi hỏi: "Thầy đau bịnh gì?