vật gì vậy?" A-nan thưa: "Đó là con của người thợ gốm xuất gia, tên là Đặc-ni-ca, làm cái nhà nhỏ bằng cỏ, thường bị bọn chăn trâu phá đi, ba lần làm, ba làm bị phá, do đó mới làm cái nhà gạch ngói này". Phật bảo A-nan: "Hãy phá cái hang gạch ấy đi, vì cớ sao? Vì bọn ngoại đạo sẽ nói: "Khi Phật đại sư còn đó, pháp lọt ra từ chỗ rỉ" Nhiều chỗ như vậy, biết mà cố hỏi.
52. Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên: Xá-lợi-phất là vị trí tuệ bậc nhất trong tất cả đệ tử, như Phật có bài kệ nói:
"Trí hết thảy chúng sanh,
Chỉ trừ Phật Thế Tôn,
Muốn sánh Xá-lợi-phất,
Trí tuệ và đa văn,
Ở trong mười sáu phần,
Còn không bằng được một".
Lại nữa, Xá-lợi-phất có trí tuệ đa văn và công đức lớn. Năm mười tám tuổi, đã tụng mười tám bộ kinh, thông hiểu hết thảy kinh sách nghĩa lý. Khi ấy ở nước Ma-kiệt-đà có anh em Long vương, một tên là Cật-lợi, một tên là A-già-hòa-la. Trời mưa xuống đúng thời, nước không bị mất mùa, nhân dân cảm phục, thường chọn tháng trọng xuân, tất cả họp lại để đi đến chỗ ở của Rồng, mở đại hội,
tấu nhạc, luận nghĩa trọn một ngày. Từ xưa đến nay, sự tập hội ấy chưa rõ, bèn lấy tên Rồng để đặt tên hội này. Lệ thường trong ngày ấy, trải bốn tòa cao, một cho quốc vương, một cho thái tử, một cho đại thần, một cho luận sư. Bấy giờ Xá-lợi-phất với cái thân tám tuổi, hỏi mọi người rằng: "Bốn cao tòa ấy đặt ra cho ai?" Mọi người đáp: "Cho quốc vương thái tử, đại thần, luận sĩ".
Khi ấy Xá-lợi-phất quán sát người đương thời Bà-la-môn v.v... thấy thần tình, đỡm lược, chí hướng của họ, không ai hơn mình, bèn bước lên tòa dành cho luận sĩ, kiết-già phu tọa. Mọi người thấy vậy nghi ngờ lấy làm lạ, hoặc bảo đó là nhỏ dại vô tri, hoặc bảo là có trí tuệ hơn người. Tuy khen cho là thần dị, nhưng vẫn ôm lòng kiêu căng, sợ xấu hổ với tuổi nhỏ kia, không tự mình nói với, mà sai đệ tử niên thiếu chuyển lời để hỏi. Xá-lợi-phất đáp lại đúng chỉ thú, lời lẽ nghĩa lý siêu tuyệt. Khi ấy các luận sư tán thán là chưa từng có. Không luận kẻ ngu người trí, lớn nhỏ tất cả đều phục. Vua rất hoan hỷ, liền ra lệnh quan Hữu ty phong tặng một làng để cung cấp thường xuyên. Vua cỡi xe voi, rung linh tuyên cáo cho tất cả đều rõ. Trong mười sáu đại quốc, sáu đại thành thảy đều vui mừng.
Khi ấy, người con thầy bói tên là Câu-luật-đà, họ Đại Mục-kiền-liên, Xá-lợi-phất kết làm bạn
thân. Xá-lợi-phất thì tài trí thông minh được quý, Mục-kiền-liên thì sáng suốt khoát đạt được trọng. Hai người này tài trí ngang nhau, đức hạnh tương đồng, đi thì cùng đi, ở thì cùng ở, nhỏ lớn quyến luyến, giao ước thủy chung. Về sau cả hai nhàm chán việc đời, xuất gia học đạo, làm đệ tử của Phạm chí. Tinh cần cầu đạo, đã lâu mà chẳng có chứng nghiệm, mới đem hỏi thầy. Thầy tên là Sằn-xà-gia (Sànjaya) trả lời rằng: "Từ khi ta cầu đạo, trải bao nhiêu năm, chẳng biết là đạo quả không có chăng hay ta không phải là người cầu đạo chăng mà ta cũng chẳng được gì!"
Một ngày kia ông thầy mắc bệnh, Xá-lợi-phất đứng ở phía trên đầu, Mục-kiền-liên đứng ở phía dưới chân, thấy thở hổn hển, mạng sắp chết, thương xót mà cười. Hai người đồng lòng cùng hỏi cười vì ý gì? Ông thầy trả lời: "Người đời không có mắt, bị ân ái bức bách, Ta thấy vua nước Kim Địa chết, đại phu nhân của ông tự nhảy vào đống lửa, mong cùng ở một chỗ, nhưng hai người ấy hành nghiệp và quả báo khác nhau, nơi sanh cũng khác nhau. Khi ấy hai người lấy viết ghi lại ý thầy, muốn để nghiệm xem hư thật".
Sau có người khách buôn nước Kim Địa, từ xa đi đến nước Ma-kiệt-đà, hai người lấy sự thật xét nghiệm, quả đúng như lời thầy nói, mới bùi ngùi
than rằng: "Chúng ta chẳng phải là hạng người cầu đạo chăng? Hay là thầy còn giấu chúng ta chăng?" Hai người cùng nhau thề rằng: "Nếu ai gặp được vị cam lồ trước, phải cho nhau cùng nếm".
Lúc ấy, Phật đã độ cả ngàn anh em ông Ca-diếp, đang lần lượt đi qua các nước, đến thành Vương Xá, dừng chân lại ở vườn trúc. Hai thầy Phạm chí nghe Phật ra đời, cùng nhau đi vào thành Vương Xá để biết tin tức. Bấy giờ có một Tỳ-kheo tên là A-thuyết-nhị (Assaja- một trong 5 thầy Tỳ-kheo được Phật độ đầu tiên) mặc y cầm bát, vào thành khất thực. Xá-lợi-phất trông thấy dung nghi y phục khác thường, các căn tịch tịnh, trầm mặc, đi đến hỏi rằng: "Ngài đệ tử ai? Người nào là thầy của ngài? Đáp: "Thái tử dòng họ Thích nhàm chán sự khổ, già, bệnh,chết, xuất gia học đạo, chứng được Vô thượng Cháng đẳng Chánh giác, là Thầy của tôi". Xá-lợi-phất nói: " Thầy ông dạy thế nào nói cho tôi biết với". Tỳ-kheo đáp kệ:
"Tuổi tôi còn trẻ nhỏ,
Ngày thọ giới mới mẻ,
Đâu thể diễn chí chơn,
Nói rộng nghĩa Như Lai".
Xá-lợi-phất nói: "Xin ngài hãy lược nói nghĩa cốt yếu". Bấy giờ Tỳ-kheo A-thuyết-nhị nói kệ:
"Các pháp nhân duyên sanh,
Pháp ấy là nhân duyên,
Pháp ấy nhân duyên diệt,
Đại sư nói như vậy".
Xá-lợi-phất nghe kệ xong liền chứng được Sơ quả, trở về để báo lại với Mục-liên. Mục-liên trông thấy nhan sắc từ hòa vui vẻ, nghinh tiếp và hỏi: "Anh được vị cam lồ ư? Hãy nói cho tôi biết?" Xá-lợi-phất liền nói lại cho bài kệ vừa được nghe. Mục-liên nói: "Hãy nói lại cho lần nữa". Xá-lợi-phất liền nói lại. Mục-liên nghe xong cũng chứng được Sơ quả.
Hai thầy cùng hai trăm năm mươi đệ tử, đều đi đến chỗ Phật. Phật từ xa thầy cùng với đệ tử đi đến, bảo các Tỳ-kheo rằng: "Các ông đã từng thấy hai người ấy ở trước các Phạm chí chăng?" Các Tỳ-kheo thưa:" Bạch Thế Tôn, đã thấy". Phật nói: "Hai người ấy là đệ tử trí tuệ đệ nhất trong hàng đệ tử của Ta".
Hai người cùng đại chúng đệ tử đi dần đến gần Phật, đến rồi cúi đầu và đứng qua một bên, cùng bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Chúng con muốn được xuất gia thọ giới ở trong Phật pháp". Phật nói: "Thiện lai Tỳ-kheo!", tức thời râu tóc tự rụng, áo pháp mặc vào thân, y bát đầy đủ, thọ giới thành tựu.
Qua nửa tháng sau, lúc Phật thuyết pháp cho Phạm chú Trường Trão, Xá-lợi-phất chứng đắc đạo quả A-la-hán. Sở dĩ nửa tháng sau mới đắc đạo ấy là