Không ai chăm sóc thầy sao? Tại sao các thầy Tỷ-kheo khong chăm nom giúp đỡ thầy?"
"Bạch đức Thế tôn, con đau cả tạng phủ, thăm bệnh kiết lỵ, chẳng có người bạn nào săn sóc con".
Thế tôn liền triệu tập Tăng chúng lại quở trách và dặn rằng: "Này các thầy, nơi đây các thầy là người không cha không mẹ, không bà con để săn sóc các thầy. Nếu các thầy không trợ giúp lẫn nhau thì lấy ai nương tựa trong lúc đau ốm. Từ nay thầy nào muốn ân cần săc sóc Như Lai, hãy để tâm ân cần săn sóc bạn mình trong cơn bịnh hoạn".
VI. Những chặng đường hóa độ
Tuy đã có nhiều tinh xá được dâng cúng cho Phật, song Phật không định cư một chỗ nào, và cũng không có chỗ nào Phật ở trọn cả năm, mà phần nhiều ngài chỉ ở An cư về mùa mưa, còn những tháng khác thì thường cùng đệ tử đi khất thực, gặp đâu ở đó, gặp ai đủ cơ duyên thì thuyết pháp hóa độ cho họ ở đó.
Lúc Phật thuyết pháp, số người nghe kể có hàng ngàn, hàng vạn người, không những đệ tử cùng thiện nam tín nữ, lại có cả thập phương Bồ-tát, Đế Thích, chư Thiên... lại để có một số đệ tử xuất gia thường theo Phật là 1.250 người ít khi thay
đổi. Thính chúng gồm có 4 hạng gọi là tứ chúng, Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, Ưu-bà-di.
Lúc Phật thuyết pháp, thời chốn tinh xá ai ra vào cũng được, ai muốn nghe giảng hay chất vấn về đạo, Phật đều sẵn lòng đối đáp không từ chối bao giờ.
Khi nào Phật không tiếp thời phái một người trong hàng đệ tử thân tín (thường là A-nan) ra tiếp khách rồi vào thuật lại cho Phật hay; nếu gặp vấn đề gì khó, đệ tử phải vô thỉnh giáo trước. Ai nói phải, làm phải thời Phật khen, ai nói sai làm trái thời Phật chê, có khi quở trách. Như Phật đã dạy: "Ta không sách tấn các thầy như thợ gốm đối với các đồ gốm chưa nung, hoặc nung chưa chín. Ta sẽ nói, hết lời chỉ trích này đến lời chỉ trích khác, hết lời tán thán này đến lời tán thán khác. Cái gì là lõi cây, cái đó sẽ đứng vững tồn tại".
Phật thường lo lắng cho các thầy Tỷ-kheo từ việc tu hành cho đến việc no ấm hàng ngày. Ngài hằng khuyến khích tín đồ cúng dường đến các bậc giới đức. Tại Vương Xá, vua Bình-sa (Tần-bà-sa-la) giao cho ông ngự y Kỳ-đà (Jivaka) nhiệm vụ săn sóc sức khỏe cho Phật và chúng Tăng. Tại Xá-vệ (Savathi) có ông Cấp Cô Độc và bà Visakha thường xuyên cúng dường mọi sự cho Tăng chúng.
Phật lo nhất là sự hòa hợp của Tăng chúng. Thế mà lúc Phật ở tại Kiều-thượng-di (Kosambi) giữa hàng Tỷ-kheo vẫn xảy ra sự xích mích lẫn nhau, Phật còn không can ngăn được, phải tách rời Tăng chúng một mình lên rừng sống. Ở đó có con khỉ đột và con voi già cũng bị bọn khỉ trẻ và voi con quậy phá. Con khỉ đột và con voi chúa phải tách đàn để đến chỗ trống vắng sống yên thân thì gặp Phật. Hai con này vui vẻ sống bên Phật, thường kiếm hoa trái dâng cúng Ngài suốt một mùa Hạ.
Các thầy Tỷ-kheo gây chia rẽ, sau đó bị tín đồ bức áp phải cùng nhau lên núi thỉnh Phật về và cầu xin sám hối. Hai thế kỷ sau, vua A-dục (Asoka) đến chiêm bái chỗ đức Phật đã sống với voi và khỉ, ông có dựng một trụ đá kỷ niệm, trên ấy có khắc chiếu chỉ ngăn cấm sự chia rẽ trong Tăng-già. Song Phật không chỉ có những người quyền quí bảo hộ, những kẻ đệ tử trung thành, những thiện tín dốc lòng mộ đạo mà cũng có kẻ thù hằng, người phản đối, đứa ghen ghét, kẻ không dung.
Trước tiên là các thầy cả của ngoại đạo (kẻ cừu địch ở ngoài). Phật thường gặp bọn lục sư ngoại đạo phá hoại đủ cách, khi thì chúng đem các lý lẽ nọ kia chất vấn, khi thì dùng mưu kế vu cho Phật những tội sát hại, gian dâm, thậm chí chúng còn dùng tới những điều vụn vặt tầm thường.
Như có hôm nọ, một tên ngoại đạo cầm một con chim sẻ trong tay và đố Phật chim chết hay sống, cốt để bêu rếu Phật không phải là bậc trí, nếu Ngài nói ra. Phật bèn đến đứng ở giữa ngưỡng cửa, hỏi:"Ông thử nói xem tôi đang ra hay vào?" Ngoại đạo không nói được. Chung qui chúng không thể hạ được mà chỉ làm cho uy danh của Phật ngày càng lan rộng.
Phật không những phải đối phó với cừu địch ở ngoài, lại còn phải cảnh giác kẻ phản gián ở trong. Vì chính trong Tăng hội cũng có kẻ phản đối Phật mà đứng đầu là Đề-bà-đạt-đa, em thúc bá với Phật. Đề-bà-đạt-đa là người rất thâm độc, nhiều tham vọng. Sau khi đi tu chứng được một ít thần thông đâm ra ghen ghét Phật, muốn phá hoại uy tín của Phật, thường đòi Phật giao cho y quản lý Tăng hội; Phật không cho, ông bèn lập phe nhóm để thừa cơ lập Giáo hội khác hầu lên làm Giáo chủ với một kỷ luật khắc khe hơn. Ông cầm đầu một nhóm Tăng sĩ, đưa ra 5 điều luật khắc khổ biệt lập với Phật là: ẩn dật nơi thanh vắng, đi xin ăn mỗi ngày (không nhận người mời ăn hoặc cúng), mặc y bằng giẻ rách vá lại (không nhận y của người khác cúng), ở giữa chỗ trống (không ở nhà hoặc gốc cây), kiêng ăn thịt cá.