vua bốn điều, nếu vua giải quyết thì Ngài sẽ hoãn sự xuất gia để ở lại lo chăm dân trị nước.
Bốn điều là:
1. Làm sao cho con trẻ mãi không già.
2. Làm sao cho con mạnh mãi không đau.
3. Làm sao cho con sống mãi không chết.
4. Làm sao cho mọi loài hết khổ.
Bốn điều mới lạ này làm vua bối rối, không thể giải quyết một điều nào cả.
Tất cả cố gắng của vua Tịnh Phạn để buộc thái tử khỏi xuất gia đều trở nên bất lực trước ý chí cương quyết của Ngài.
Nhưng Thái tử nuôi dưỡng quyết tâm từ bỏ gia đình, xuất gia cầu đạo. Nhưng, một tin đến, khiến Thái tử không vui: công chua Yasodhara mới hạ sinh một con trai. Thái tử nói: Một trở ngại (Ràhu) đã được sanh, một ràng buộc đã xảy ra". Nhân đó, ông nội, vua cha Suddhodana đặt tên cháu là Ràhula (La-hầu-la).
III. Đức Phật xuất gia
Vào giữa đêm trăng tròn tháng 2, trong lúc mọi người đang yên giấc, thái tử lén vào phòng nhìn vợ, nhìn con lần cuối rồi trở ra đánh thức Xa-nặc (Channa) bảo thắng ngựa Kiền-trắc
(Kanthaka) rồi thầy trò ra đi không ai hay biết. Lúc ấy, thái tử vừa được 29 tuổi. Ra khỏi thành thái tử đi về hướng Đông Nam, thẳng đến bên kia bờ sông A-nô-ma (Anoma) dừng ngựa lấy gươm cắt tóc, cởi hoàng bào trang phục giao cho Xa-nặc, bảo trở về Ca-tỳ-la-vệ tâu lại vua cha để yêu cầu vua cha và công chúa Du-da-đà-la yên tâm để cho Ngài đi tầm đạo. Sau khi Xa-nặc trở về, thái tử đổi áo cho một vị đạo sĩ, rồi lần vào rừng khổ hạnh của các Bà-la-môn Bạt-già-la (Bhrarnana). Khi thấy thái tử các vị ấy vội vàng nghinh tiếp. Thái tử thấy họ tu theo nhiều lối khổ hạnh kỳ lạ, có người lấy vỏ cây làm áo, có người chỉ ăn hoa quả, lá cây, người thì ăn ngày một bữa, người hai ngày một bữa, có mấy người nhịn đói, có người thờ nước, thờ lửa, thờ mặt trời, thờ mặt trăng, người thì co một chân giang một tay lên trời, kẻ lại nằm trên chông gai... Thái tử hỏi họ tu khổ hạnh ép xác như vậy được kết quả gì? Họ muốn làm Thiên vương hoặc Ma vương. Có kẻ muốn thần thông quảng đại. Thái tử nghe liền than: "Trên cõi trời tuy vui sướng thật, nhưng hưởng hết phước lại phải sa đọa, trước sau vẫn chỉ nổi chìm trong bể luân hồi. Các ông nhẫn công kham khổ tu hành như thế mà rốt cục không khỏi quả báo thì vô ích lắm!" Thái tử không thỏa mãn với lối tu ấy, Ngài bèn từ giã ra đi và
theo lời khuyên của họ, Ngài đi đến hai ông Bà-la-môn tên A-la-la (Alla kalaman) và Ưu-đà-ca (Uddaka) ở gần thành Vương Xá nước Ma-kiệt-đà là hai vị nổi danh thuộc phái Số luận để hỏi phép tu. Ông A-la-la bảo Ngài: "Ngài muốn tu hành phải theo cách xuất gia, thề giữ giới hạnh, đi xin ăn đủ sống, áo quần thế nào cũng xong, ăn ngủ thế nào cũng được, tìm chỗ thanh vắng đi một mình, lánh xa lòng tham, lòng dâm, coi mọi cái ở thế gian như tro bụi, không ưa đắm giữ gìn. Phải tắm gội linh hồn bằng kinh kệ và chuyên nhập định. Lần lần được định Sơ thuyền, Nhị Thuyền, Tam thuyền, Tứ thuyền rồi đến định Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ. Như vậy khi đặt định Bất dụng xứ, sinh về cõi trời Vô tưởng là đặng giải thoát. Định Bất dụng xứ tôi đã chứng được. Tu đến như vậy mới là giải thoát".
Thái tử nghe lời tu tập ít lâu đã chứng tới định Bất dụng xứ (Vô sở hữu xứ) rồi hỏi ông Alala dạy lối tu tiếp, nhưng ông không biết gì hơn nữa. Thái tử khen lối tu ông hay nhưng chưa rốt ráo nên Ngài từ giã đi đến nơi khác. Thái tử nghe đồn nhà đạo sĩ Lama là người giỏi nhất Ấn Độ. Sau khi ông chết, giáo đồ chúng lại cho người con trưởng tên Uất-đầu-lam-phất (Udraka-Rama-putra), thái tử vượt sông Hằng, tìm đến ông thầy để thọ giáo.
Được ông dạy rằng: "Phàm người chấp nơi hình tướng sự vật hay nơi không hình tướng, đều là sai lạc cả. Vậy cần phải xem xét cho chín chắn, chỉ lãnh thọ cái thể nhiệm mầu của muôn sự vật, thì mới chắc đặng quả giải thoát cao nhất và sinh về cõi trời Phi tưởng phi tưởng. Tôi hiện đang tu tập phép nhiệm mầu ấy".
Thái tử nhập định một hồi đã chững được định Phi tưởng, phi phi tưởng, nên hỏi ông Uất-đầu-lam-phất dạy thêm cho cái khác, Ông này trả lời" Ngày xưa thân phụ tôi chỉ được chừng nấy". Thái tử lại hỏi "Ở cõi trời Phi phi tưởng còn có ngã hay không ngã? Nếu không ngã thì không nên nói Phi tưởng phi phi tưởng, còn nếu có ngã thì ngã ấy biết hay không biết? Ngã ấy nếu không biết thì đồng cây đá. Ngã nếu có biết thì đồng tâm phan duyên, đã có phan duyên thời có nhiễm trước, làm sao giải thoát được. Các ông chỉ mới dứt được thô kiết, không tự biết kiết sử vi tế đương còn, lại lầm cho là rốt ráo giải thoát. Nên biết phải trừ sạch ngã và ngã tướng mới chơn giải thoát được".
Lại một lần nữa thái tử từ giã ông uất-đầu-lam-phất, mà chỉ đi đến ông Ca-la. Nhưng ông này chỉ dạy những điều như ông trước, nên thái tử lại phải rời xa ông và đến ở tạm núi Bàn-đồ-bà thành Vương Xá.
Một hôm vào thành khất thực, gặp vua Tần-bà-sa-la (Bimbisara) vua thấy thái tử thì kính phục hết sức, khuyên thái tử trở về tục, đặng nhường ngôi báu. Thái tử không chịu, vua thỉnh cầu thái tử khi thành Đạo nhớ độ cho vua thoát khỏi luân hồi. Từ giã vua Tần-bà-sa-la, thái tử tìm đến rừng khổ hạnh, xóm Ưu-lâu-tần-loa (uruvela) ở phía Nam núi Tượng Đầu (Gajasirsa) bên sông Ni-liên-thuyền (Nai ranjana) ngày nay gọi là sông Phalgu. Thái tử ở lại đó cùng tu khổ hạnh với 5 ông:
1. Kondanna (Kiều-trần-như hay Hỏa Khí, Giải không).
2. Bhaddya (Bạc-đề hay Tiểu Hiền)
3. Vappa (Thập Lực hay Khởi Tín)
4. Mahamana (Mahanam hay Đại Sanh)
5. Assaji (Ác-bệ hay Bạc Sư, Mã Thắng, A-thuyết-thị)
Ròng rã tu khổ hạnh giữa rừng núi thâm u thỉnh thoảng bóng tối đêm dài gây nên trong Ngài nỗi niềm lo sợ. Để xua đuổi, thái tử đã tập quán tưởng theo kinh nghiệm của mấy người Bà-la-môn "Ngày là đêm, đêm là ngày". Phương pháp này chỉ là tạm thời bớt lo sợ lúc đầu, thái tử nghĩ rằng đó là một phép quán tưởng chối bỏ sự thật, phải quán tưởng "Ngày là ngày, đêm là đêm" mới khỏi sai lạc sự thật và mới hiệu nghiệm được. Quả vậy, sau
khi Ngài đổi cách, mỗi khi thấy lòng mình nao nao sợ hãi, thì Ngài liền tiếp niệm tưởng ngày là ngày, đêm là đêm, tự nhiên cơn sợ biến tan.
Sau khi quyết chí tu khổ hạnh ép xác, thân thể gầy ốm, sức kiệt hơi tàn chỉ còn da bọc xương nhưng tinh thần vẫn không có gì thay đổi mới mẻ, Ngài đứng dậy không nổi nữa. Ngài vừa mới sửa soạn đứng dậy kinh hành thì liền bị ngã xuống đất bất tỉnh. Người chung quanh tưởng Ngài đã chết. Phút chốc Ngài suy nghĩ: "Không thể có một tinh thần minh mẫn trong một thân thể suy tàn, bạc nhược. lối tu ép xác nhịn khát nhịn đói này chỉ đem lại cho Ta một thân thể yếu đuối. Đạo giải thoát ta vẫn chưa tìm được. Ta sẽ thọ thực trở lại và tiếp tục tìm Đạo bằng chính tự tâm Ta, bằng trí tuệ quán tưởng của Ta".
Đương lúc đó tại xóm Tu-na-do-na, gần xóm Ưu-lâu-tần-loa có hai nàng mục nữ tên: Nan-đà (Hỷ) và Bà-la (Lực) thường ngày hâm mộ hạnh đức thái tử, họ vừa nghe thái tử chịu ăn uống, liền đem thức ăn đến dâng cúng cho Ngài.
Nhóm ông Kiều-trần-như thấy thái tử chịu ăn uống, tưởng thái tử đã thối chí nản lòng nên bỏ thái tử qua xứ Ba-la-nại (Bénarès) vào vườn Lộc giã cùng nhau tu khổ hạnh. Thái tử một mình rời xóm Ưu-lâu-tần-loa đi đến Ni-liên-thuyền cởi áo xuống
tắm rồi lên bờ ngồi tại dưới gốc cây, tĩnh tâm nhiếp niệm. Lúc ấy trong xóm Ưu-lâu-tần-loa có nàng Tu-xà-đa (Sujata, Thiện sinh) con ông thôn chủ (thôn trưởng) đựng cháo sữa trong bát vàng đem đến cúng trả lễ vị thổ thần ở đó. Chợt trông thấy thái tử đang ngồi trầm tư mặc tưởng, nàng tưởng là vị thổ thần ứng hiện lên thành tâm cúng dường bát cháo sữa cho Ngài. Sau khi thọ thực, Ngài thấy thân thể khỏe mạnh, tinh thần kiện tráng, sẵn có chiếc bát vàng trong tay. Ngài liền quăng xuống sông Ni-liên-thuyền với lời ước rằng: "Nếu tôi có thể thành Đại giác thì cái bát này sẽ nổi trên sông và trôi ngược giòng".
Quả thực khi cái bát được quăng xuống, thì đúng y như lời ước, khiến thái tử tin chắc mình sẽ thành một ngôi Đại giác.Trọn ngày đó Ngài vẫn tỉnh tọa bên sông Ni-liên-thuyền. Đến chiều Ngài rời chỗ này và nhắm núi Tượng Đầu đi đến, giữa đường Ngài gặp người cắt cỏ tên là Tô-đế-gia (Sothiya) hiến cho Ngài 8 lọn cỏ tốt. Ngài nhận cỏ đem đến trải dưới cây Tất-bát-la (Pippala) trong núi Tượng Đầu, rồi ngồi kiết-già tề chỉnh, xây mặt hướng đông, thề rằng: "Nếu không đắc đạo thì dù thịt nát xương tan quyết không đứng dậy khỏi chỗ này". Thề xong Ngài bắt đầu quán tưởng, đặc biệt chú ý tìm cho ra manh mối của kiếp luân hồi sanh
tử. Suốt 49 ngày Ngài đã phát minh ra định luật 12 nhân duyên là nguồn gốc của sự thống khổ và Ngài phá trừ được nó nhờ một năng lượng trí tuệ cao siêu để trở thành Giác ngộ. Suốt thời gian 49 ngày tu quán, biết bao nhiêu ma chướng trong ngoài xuất hiện quấy phá, quyết liệt nhất là đêm cuối cùng trước khi Ngài thành Đạo, bọn ma vương biết Ngài sắp thành Phật và đem Chánh đạo truyền dạy mọi người, chúng sợ không còn ai theo chúng nên họp nhau tìm đủ mọi cách phá hoại. Trước hết chúng dùng sức mạnh vũ lực, kéo cả đại đội binh mã với đủ cả vũ khí và sĩ tốt mặt mày hung tợn kéo đến cây Bồ-đề, chỗ Bồ-tát ngồi tu. Cùng lúc huơ mâu múa kiếm, chúng còn hô phong hoán vũ sa mưa gió ầm àm nhưng Bồ-tát vẫn ngồi an nhiên bất động. Dùng vũ lực không thành, chúng liền dùng nữ sắc. Ma vương chọn ba nàng ma nữ kiều mỹ tên Ái-dục (tanha), Tình-yêu (Arati), Tham ái (Raga) với hy vọng thế nào cũng lôi cuốn được thái tử. Không dè sau khi chúng bày hết trò trêu chọc vẫn không làm Bồ-tát lung lay, còn bị Ngài quở cho mang bộ mặt xấu xí nhăn nheo chạy về. Bồ-tát đã thắng phục ma vương và thắng phục giặc phiền não trong nội tâm nên đầu canh một, Ngài dứt sạch dục lậu phiền não (kamasava), chứng được Túc mạng minh (Pubbenivasa nusatinana) biết tất cả kiếp quá khứ của mình. Qua canh hai