thế mà đắc Đạo, bèn thân hành đến xem và chất vấn đề đạo. Phật thuyết pháp cho vua nghe, giải bày cho vua rõ, bài thuyết pháp ấy gọi là Thiếu niên kinh hay là Gương thiếu niên (Dhara sutrakumar drienatantasutra). Hai vị này cảm kích thấy Ngài cũng là dòng họ vua lại dám hy sinh ngôi báu xuất gia và đắc Đạo, còn sống một cuộc đời thanh đạm, theo đuổi công việc tế độ quần sinh, nên hết sức kính phục và nhiệt thành ủng hộ trong việc hoằng hóa.
Uy danh của Phật càng lan rộng, bao nhiêu thanh niên giàu có phát tâm xuất gia theo Ngài khiến trong dân chúng có sự đố kỵ phiền trách, cho rằng đức Phật đã quyến rũ người đi tu làm tổn thương đến gia đình sự nghiệp họ, nên Ngài đặt ra một điều kiện để hạn chế sự thâu nhận kẻ xuất gia, bảo toàn uy tín của giáo đoàn Tăng lữ: Như những người có bệnh nan y, truyền nhiễm, kẻ sát nhân, kẻ có tiền án và những người có sự xuất gia của họ làm tổn thương đến quyền lợi kẻ khác như: người đầy tớ, những quân nhân quan chức, kẻ trốn nợ đều không được thâu nhận vào hàng Tỷ-kheo. Các thanh thiếu niên muốn xuất gia phải có cha mẹ cho phép và bảo đảm tánh hạnh.
Khi những điều kiện này được Phật ban ra thì mọi người đều thỏa mãn.
8. Phật độ ông Đại Ca-diếp (Mahakassaga):
Ông Đại Ca-diếp là người đại thông minh lại giàu có, sự nghiệp chẳng thua gì vua Tần-bà-sa-la. Song vốn có lòng cao thượng, chẳng ưa chuyện ái tình lục dục, ông xin đến thọ giáo và xuất gia theo Phật, về sau trở thành một vị đệ tử có uy tín lớn trong Giáo hội. Chính Ngài là người được Phật đối đãi như bạn thân, chia nửa chỗ ngồi cho Ngài (kinh số 1142 Tạp A-hàm) và được phú chúc y cà sa, truyền tâm ấn để làm vị Sơ tổ tại đại hội Linh sơn. Vì vậy, sau khi đức Phật nhập Niết-bàn, Ngài đảm nhận nhiều trọng trách: Chủ tọa lễ Trà-tỳ đức Phật và chủ tọa đại hội kiết tập kinh điển lần đầu tiên tại thành Vương Xá.
9. Phật độ gia đình: thanh danh của đức Phật vang dội từ nước Ma-kiệt-đà đến thành Ca-tỳ-la-vệ. Vua Tịnh Phạn (Suddhodana) hay tin con mình đắc Đạo và hiện đang ở gần thành Vương Xá (Rajagaha) trong vườn Trúc Lâm. Vua liền phái sứ giả đi thỉnh Phật về. Chín lần phái sứ giả đến là chín lần mất dạng. Họ đến nhằm lúc Phật đang giảng đạo cho đệ tử, Ngài dạy: "Có một rừng kia ở bên triền núi, phía dưới có một các hồ rộng và sâu, gần mé hồ có nhiều thú rừng ở nối nhau từng đoàn. Một người nọ đến đó muốn hại và trừ tuyệt các con thú ấy bằng cách lấp đường mòn và trổ một ngõ khác, dẫn tới một cái hồ thối tha ghê rợn, cố ý không cho đàn thú sống quanh quẩn bên hồ.
Nhưng có một người khác đi lại, người này muốn săn sóc cứu giúp các thú, bèn phá cái hầm thông đến hầm nước thối và làm một con đường khác chắc chắn đưa đến đỉnh núi cao. Bầy thú không còn bị hại, lần lượt lên núi sống yên lành.
Này các Tỷ-kheo! Các thầy hiểu ý Ta chăng? Cũng như đàn thú ở gần hồ rộng và sâu kia, nó quên mọi sự nguy hiểm, con người cũng vậy, chỉ quanh quẩn bên sự dục lạc vui sướng, kẻ toan làm hại, làm tổn, làm nguy cho họ là Ma vương. Cái hầm thối tha nơi ấy các thú sẽ nhào xuống chết là bị sự mê dục, tham muốn và vô minh của loài người. Còn người kia muốn làm cho mọi vật được an vui là đấng từ bi, là Phật vậy.
"Này các thầy Tỷ-kheo, Ta đã mở ra con đường chắc chắn, Ta đã phá mất con đường tà bậy. Các thầy theo Ta sẽ không lạc xuống hố sâu, các thầy sẽ đi lên đỉnh núi sáng rực".
Các sứ giả lần lượt nghe Phật giảng sinh lòng hân hoan, đều xin Phật xuất gia nhập hàng đệ tử. Đức Phật gọi họ: "Lại đây, hỡi thầy Tỷ-kheo, Chánh pháp đã truyền dạy, thầy hãy sống theo Chánh pháp đã truyền dạy để diệt tận nguồn khổ". Vừa dứt lời râu tóc họ sạch trọi, y phục trở thành y phục Sa-môn màu vàng. Họ đã quả thực thành thầy Thiện lai Tỷ-kheo (Ehi Bhikkhu) trong Tăng đoàn,
quên mất nhiệm vụ của họ là đến mời Phật về.
Vua Tịnh Phạn nóng lòng trông đợi bọn sứ giả, nhưng đều mất tích. Lần thứ mười, vua phái Ưu-đà-di (Udayi) một vị trung thành của triều đình và là bạn thân của Phật khi Ngài chưa xuất gia đến mời Phật về. Khi đến Trúc Lâm, Ưu-đà-di dầu đã ngã lòng theo đạo lý, song vẫn còn nhớ thỉnh Phật về. Được Phật nhận lời, Ưu-đà-di về trước báo tin, thành Ca-tỳ-la tưng bừng chờ đón. Đức Phật cùng Tăng chúng lên đường, từ thành Vương Xá đến thành Ca-tỳ-la-vệ trải qua 60 ngày ròng rã.
Khi đến nơi Phật và chư Tăng dừng chân nơi vườn thượng uyển của vua cha, tên vườn là Cây Đa (Nigrodha) thuộc ngoại ô hoàng thành.
Vua Tịnh Phạn nghe tin vội vàng xe giá đến đón. Vừa đến nơi, Vua thấy Phật đầu để trọc, mặc áo Cà-sa, tay cầm bình bát để xin những thức ăn của bọn cùng dân hạ tiện thì nổi giận đùng đùng: "Này Siddhatta, có đời nào một vị thái tử như con, sắp nối ngôi ta trị vì một đại quốc lại ăn mặc tầm thường và sống nhờ vào đám cùng dân Palia như thế?Ta tưởng sau chín mười năm bỏ cung điện ra đi, chịu mọi điều gian lao khổ cực, lần này con sẽ trở về một cách oai phong lẫm liệt cho xứng với lòng mong đợi ta, của triều đình,của muôn dân mới phải, có ngờ đâu, con lại trở về một cách