mẹ nổi giận, bay đến trong nũi Hương lấy quả độc, hương vị sắc toàn giống như quả trước, người giữ vườn cướp được đem nộp cho vua, vua cho Thái tử ăn, trong chốc lát thân thịt bị rã nát mà chết.
VII. Mấy năm đức Phật về già
Xưa nay những người sống lâu thường hay gặp phải cảnh mắt trông thấy ngươi thân yêu, kẻ tin cậy chết trước mình. Đức Phật cũng vậy. Trong hàng đệ tử có hai vị thân tính nhất là Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đều viên tịch trước Phật.
Một hôm trên đường du hóa trở về, hai Ngài bị bọn đồ đệ ông Bảo-lạc-nọa thuộc giáo phái ngoại đạo Ni-kiền-tử, cầm gậy chận đường gây sự rồi đánh chết. Bọn này khi thấy Tôn giả Xá-lợi-phất đi tới, đứng chận lại hỏi: "Trong chúng Chánh mạng có Sa-môn không?"
Ngài Xá-lợi-phất vốn là bậc trí tuệ đệ nhất đoán biết ý chúng, nên trả lời: "Trong chúng Chánh mạng Sa môn không, trong chúng Thích ca Sa-môn có, nếu A-la-hán còn tham ái là không có kẻ ngu si". Chúng không hiểu nghĩa, tưởng Ngài khen mình nên để cho Ngài đi. Đến lượt Ngài Mục-kiền-liên đi tới, chúng lại hỏi câu ấy. Ngài Mục-kiền-liên liền đáp: "Trong chúng cho là nhục mạ chúng, vây đánh nhừ tử rồi bỏ đi. Ngài Xá-lợi-phất quay lại, trông thấy Ngài Mục-kiền-liên mình
mẩy bầm nát, xương thịt rời từng mảnh trên đất, liền lấy áo Cà-sa bọc đem về tinh xá. Được hỏi tại sao Ngài là bậc thần thông đệ nhất lại để bị như thế, Ngài Mục-kiền-liên trả lời: "Khi mãn nguyện rồi, chỉ một chữ "Thần" tôi cũng chưa nhớ rõ huống hồ là phát "thông". Rồi Ngài nhắc lại lời Phật: "Giả sử kinh bách kiếp, sở tác nghiệp bất vong, nhân duyên hội ngộ thời, quả báo hoàn tự thọ" (Dù trải qua mấy trăm kiếp, nghiệp đã tạo không mất, khi nhân duyên hội tụ, phải thọ nhận quả báo). Kế đó Ngài viên tịch.
Ngài Xá-lợi-phất thấy bạn mình như thế, liền đến xin Phật để vào Niết-bàn. Ngài nói: "Ngã ư sinh bất ái, ư tử diệc vô ưu, thị cố ngã Niết-bàn, cánh vô quá thử lạc" (Con đối với sinh không ham, đối với tử không sợ, cho nên con Niết-bàn, vui này hơn tất cả).
Phật hỏi tiếp hai phen, Ngài trả lời: "Con muốn vào Niết-bàn". Phật liền dạy: "Chư hành vô thường, thị sanh diệt pháp, sanh diệt dĩ diệt, tịch diệt vi lạc". Nếu Ngươi thấy việc gì đúng thời, đúng chỗ, đúng pháp thì tùy ý Ngươi chứ Ta còn nói gì nữa". Tôn giả Xá-lợi-phất lạy sám hối Phật 3 lạy và cầu xin Phật từ bi chỉ cho những điều Phật thấy, nghe, nghi điều gì tội không? Phật dạy: "Thầy là bậc trí tuệ trong Pháp của Ta, lâu nay thầy đã sống không những đối với Thế Tôn mà cả đại
chúng hòa hợp thanh tịnh như nước hòa với sữa. Nay công hạnh độ sanh của Thầy đã mãn, trước khi đi hãy đến chào từ biệt chúng Tăng... Ngài y theo lời Phật dạy và từ tạ Phật đi đến thăm và sách tấn Tăng chúng. Sau đó, Ngài đến thôn Na-la-đà và Niết-bàn tại đó.
Lại nói với ông vua có công lớn giúp Phật là vua Tần-bà-sa-la nước Ma-kiệt-đà và vua Ba-tư-nặc nước Kiều-tất-la, đều kế nhau gặp nạn mà chết. Vua Tần-bà-sa-la có người con là A-xà-thế (Ajatasatu) giết vua cướp lấy ngôi lên làm vua nước Ma-kiệt-đà. Sở dĩ A-xà-thế gây nên tội ác này cũng bởi nghe lầm lời xui khiến của Đề-bà-đạt-đa. Ông này khi đắc thế xui vua chống báng Phật, hạ lịnh cấm nhân dân trong nước không ai được đi lại với Phật. Thậm chí có một tín nữ trong hoàng cung tên Erimati vì mạn phép thắp hương ở bàn thờ Phật mà phải bị tội chém. Nhưng sau nhờ lời cảnh giác của mẫu hậu, ông đem lòng ăn năn hối hận, liền hạ lịnh trục xuất Đề-bà-đạt-đa và không chống báng Phật nữa. Một hôm, giữa đêm ông tìm tới trước Phật tỏ lòng qui kính, và thú tội rằng: "Tôi xin thành tâm quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Ngày nay tôi khổ não trong lòng, đem thân đến đây nương náu cửa Phật, xin Thế Tôn rộng lượng dung tôi. Tôi là đứa ngu, tôi là thằng dại, tôi là kẻ ác, tôi đã phạm tội nặng, bởi phép
mầu cha tôi là người trung chính, trung trực. Tôi đã giết cha tôi để cướp lấy ngôi vua, xin Thế Tôn cho tôi thú tội, từ nay cho tôi thụ giáo". Vua nói giữa trước mặt cả Tăng hội, Phật nghe rồi, an ủi cho vua rằng: "Tôi là thú là tội hết".
Giáo hội đã trải qua một lúc khó khăn vì sự chống báng của vua A-xà-thế, nhưng từ nay lại được ông hết lòng ủng hộ, cung kính. Mỗi khi triều đình có việc quan trọng phải giải quyết, vua thường đến thỉnh giáo đức Thế Tôn.
Một ngày nọ, vua muốn đem binh đi xâm chiếm đất đai của dân Bạt-kỳ giàu có, bèn phái đại thần Vũ-xá đến Phật thưa hỏi về ý định xâm lăng của A-xà-thế. Đức Phật liền bắt qua nói chuyện với đại đức A-nan để gián tiếp trả lời cho vị khách của Ngài:
- Này A-nan, thầy có nghe dân Bạt-kỳ đối xử với nhau bằng cách nào mà xứ sở họ được giàu có hùng mạnh?
- Bạch đức Thế Tôn, đệ tử thường nghe người Bạt-kỳ từ bậc vua chúa đến hàng thứ dân đều áp dụng chính sách rất khôn ngoan để bảo tồn vĩnh viễn bờ cõi và sự phồn vinh của họ.
- Thật vậy A-nan! Dân Bạt-kỳ thường trên dưới thuận hòa, thi hành bảy điều căn bản để duy trì đất đai và sự giàu có xứ sở họ mà xưa nay chẳng có một cuộc ngoại xâm nào thắng được họ.
1. Thường họp nhau giải quyết vấn đề chung của quốc gia.
2. Đoàn kết thuận hòa với nhau.
3. Thi hành đúng theo Pháp luật chế định.
4. Tôn kính bậc trưởng lượng.
5. Kính nể hàng phụ nữ.
6. Bảo tồn các đền thờ trong xứ.
7. Sùng bái các bậc Thánh nhân.
Sứ giả Vũ-xá nghe Phật kể xong liền thưa: Nếu quả thực như vậy thì chẳng nên mạo hiểm xâm chiếm xứ Bạt-kỳ và ông xá Phật lui về.
Sau khi rời khỏi, Phật liền hội chư Tăng lại dạy 7 điều cần thiết để duy trì Giáo hội được lâu bền.
1. Các thầy Tỷ-kheo phải sống tập đoàn và thường hội họp để học hỏi lẫn nhau.
2. Các thầy Tỷ-kheo phải luôn luôn hòa hiếu trong đời sống hằng ngày, lúc hội họp, lúc giải tán, lúc hành Tăng sự.
3. Các thầy Tỷ-kheo thông hiểu những điều ngăn cấm, chẳng nên sửa đổi hay chế bỏ các điều luật, mà phải nghiêm trì đầy đủ.
4. Các thầy Tỷ-kheo phải tôn kính và vâng lời các bậc Trưởng lão nhiều kinh nghiệm.
5. Các thầy Tỷ-kheo trước vì người sau vì mình, không nên để cho lòng tham muốn chi phối.