B. Lịch sử đức Phật Thích Ca
H. Đạo Phật do ai dựng nên?
Đ. Do đức Phật Thích-ca Mâu-ni dựng nên.
H. Thích-ca Mâu-ni nghĩa là gì?
Đ. Thích-ca là họ, Mâu-ni là tiếng tôn xưng. Hiệp lại tức là thành họ Thích-ca.
H. Tên thật của Ngài là gì?
Đ. Ngài là con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma-da, nước Ca-tỳ-la-vệ xứ Ấn Độ.
H. Ngài giáng sanh nơi nào?
Đ. Ngài giáng sanh tại dưới cây Vô ưu trong vườn hoa Lâm-tỳ-ni.
H. Ngài giáng sanh năm nào?
Đ. Trước Tây lịch 624 năm, Ngài sanh khi mặt trởi mọc ngày rằm (ngày trăn tròn) thánh hai Ấn Độ, tức tháng tư lịch Trung Quốc (tục nước ta thường làm lễ kỷ niệm Phật đản vào ngày 15 tháng 4 và lấy năm Phật Niết-bàn làm Phật lịch).
H. Phật Niết-bàn năm nào?
Đ. Cách đây 2535 năm, (1992-PL.2535).
H. Lúc chưa giáng sanh Ngài tên gì và ở đâu?
Đ. Tên Hộ Minh Bồ-tát và ở cung trời Đâu-suất.
H. Cung trời Đâu-suất có phải là một Thiên đàng không?
Đ. Chỉ là một cõi trời trong nhiều cõi trời khác, chưa phải cảnh giới giải thoát hoàn toàn an vui tuyệt đối.
H. Vì sao Ngài giáng sanh?
Đ. Vì lòng từ bi muốn cứu độ chúng sinh trong cõi Ta-bà này, nên Ngài giáng sanh để hóa độ.
H. Trước khi Ngài sanh có điều lạ gì ứng ra không?
Đ. Có, tức là bà hoàng hậu Ma-da, một hôm nằm mộng thấy voi trắng sáu ngà (tượng trưng vị Bồ-tát tu lục độ) đến bên hông, từ đó đức bà thụ thai rồi sanh Ngài.
H. Lúc Ngài sanh có hiện tượng gì kỳ lạ?
Đ. Có, nhiều hiện tượng kỳ lạ như: quả đất rung động, nhạc trời trỗi tấu, chim trời reo ca, hoa trổ đầy vườn, một niềm vui tràn khắp trong nhân gian. Khác hơn các trẻ tầm thường khác, khi vừa sanh ra Ngài liền đi bảy bước trên hoa sen, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất và nói "Trên trời
dưới đất chỉ có Ta là tôn quí" (thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn).
H. Tướng mạo của Ngài thế nào?
Đ. Vị đạo sĩ A-tư-đà xem tướng thấy Ngài đẹp đẽ dị thường, đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp.
H. Đạo sĩ có nói gì không?
Đ. Ông đoán sau này ngài sẽ xuất gia tu thành Phật quả. Nói xong ông nức nở khóc, tủi phận mình đã quá già, không còn sống lâu để nghe pháp Phật dạy.
H. Tài năng của Ngài như thế nào?
Đ. Ngài rất thông minh đức hạnh. Các giáo sư giỏi nhất trong xứ chỉ dạy Ngài một đôi năm là Ngài thông suốt văn võ, làm cho họ phải bái phục.
H. Thái tử vốn là sống trong cảnh phong lưu phú quý phải không?
Đ. Phải, phụ vương rất cưng yêu và sợ Ngài xuất gia không người kế vị, nên hết sức săn sóc lo cho Thái tử không thiếu thứ gì.
H. Phụ vương săn sóc thế nào?
Đ. Phụ vương xây cho ba tòa lâu đài hợp với thời tiết trong ba mùa của xứ Ấn Độ, mùa nóng có chỗ mát, mùa lạnh có chỗ ấm, mùa không nóng
không lạnh (ôn hòa), có chỗ không lạnh, không nóng. Cung điện trang hoàng đầy hoa thơm cỏ lạ, thêm cung nữ múa ca không ngớt.
H. Thái tử sống một mình sao?
Đ. Không, lúc 16 tuổi Ngài kết hôn với công chúa Da-du-đà-la, con vua Thiện Giác.
H. Thái tử kết hôn cách nào?
Đ. Ngài đã thắng các thanh niên đến dự (trận) đấu võ thi tài và chọn công chúa Da-du-đà-la người tươi đẹp hiền thục nhất trong các công chúa muốn được làm vợ Ngài.
H. Ngài chứng đạo Bồ-đề trong cung điện giữa cảnh phú quý vinh hoa ấy sao?
Đ. Không, Ngài xuất gia, một mình len lỏi vào rừng tầm đạo tu hành, sau mới Giác ngộ.
H. Ngài đã sẵn lòng từ bi, thì ở nhà làm vua rồi đem đạo đức cứu độ nhân gian cũng được, sao phải xuất gia làm gì?
Đ. Dầu làm vua đem pháp chân chánh trị an cũng chỉ cứu được người dân trong một nước và chỉ cứu hết khổ tạm thời, xuất gia thành Phật mới cứu được cả muôn loài, khắp mọi nơi thoát khổ vĩnh viễn.
H. Nhân duyên gì khiến Ngài xuất gia?
Đ. Vì Ngài thấy cảnh tượng thống khổ giữa đời.
H. Những cảnh tượng ấy thế nào?
Đ. Ngài lần ra ngoài thành dạo chơi, lần thứ nhất Ngài gặp cảnh người già; lần thứ hai gặp người bệnh; lần thứ ba gặp người chết, làm Ngài thương xót vô cùng. Sau cùng Ngài gặp một vị Sa môn dáng bộ thanh cao bình tĩnh. Từ đó Ngài nuôi trong trí cái ý định xuất gia tầm đạo.
H. Ngài thấy cảnh tượng ấy nhiều lần phải không?
Đ. Chỉ thấy một lần thôi.
H. Vì sao?
Đ. Vì hồi bé vua cha có dắt ngài đi xem dân cày cấy, thấy người và vật hì hục vất vả dưới nắng thiêu đốt, chim chóc giành mổ ăn các loại côn trùng, giẫy giụa trên luống đất mới. Ngài thương xót buồn rầu. Từ ấy vua cha hết sức giữ gìn không cho đi đâu cả, để Ngài khỏi trông thấy cảnh khổ giữa đời.
H. Vua cha có thuận cho Ngài xuất gia không?
Đ. Không, nhưng sau cùng có hứa rằng nếu có cháu nối giòng, vua sẽ bằng lòng để Thái tử xuất gia.
H. Thái tử có vâng lời không?
Đ. Thái tử vâng lời. Khi con Ngài là La-hầu-la đã ra đời, Ngài nhất quyết xuất gia tầm đạo để cứu chúng sinh.
H. Thái tử xuất gia năm nào?
Đ. Nhân sau một buổi dạ yến, rằm tháng hai (tục ta kể ngày mùng 8) mọi người say ngủ mê mệt, Ngài cùng kẻ hầu tên Xa-nặc, thắng ngựa Kiền-trắc trốn đi xuất gia. Lúc đó Ngài 29 tuổi.
H. Xuất gia Ngài đi đâu?
Đ. Ngài đi đến bên sông A-nô-ma, cắt tóc, hoàng bào giao Xa-nặc đem về, riêng Ngài tiến về rừng tìm các đạo sĩ hỏi đạo.
H. Ngài đã hỏi đạo với ai?
Đ. Ngài hỏi đạo với các vị đạo sĩ tu cao nhất là ông Ka-la-la, ông Uất-đầu-lam-phất và cố tâm theo họ.
H. Ngài tu thế nào?
Đ. Ngài chuyên tu khổ hạnh sáu năm, tập ăn ít dần, đến sau, mỗi ngày chỉ cần một hột mè hay hột gạo vừa duy trì mạng sống.
H. Tu như thế Ngài có giác ngộ chăng?
Đ. Chỉ càng ngày càng yếu, cho đến một ngày kia, lúc vừa đi vừa suy nghĩ, Ngài mất sức té xỉu xuống đất.
H. Lúc đó Ngài nghĩ sao?
Đ. Ngài nghĩ rằng lối tu ép xác ấy cũng như lối đam mê khoái lạc, cả hai đều không phải hành
động chính đáng đưa đến giải thoát, nên định ý ăn uống lại như thường.
H. Ai cúng dường cho Ngài ăn?
Đ. Một thiếu nữ dòng quý phái tên Tu-đà-la đem sữa đến dâng Ngài dùng, sức lực hồi phục; Ngài xuống sông Ni-liên-thuyền tắm, rồi trở về rừng, đến dưới gốc cây Bồ-đề ngồi tĩnh tọa tham Thiền. Ngài thề rằng:"Dầu thịt nát xương tan nếu không giác ngộ, quyết không dậy khỏi chỗ này".
H. Ngài có chứng quả được không?
Đ. Có, sau 49 ngày ngồi Thiền quán, đến ngày 15 tháng chạp (tục ta kỷ niệm ngày thành đạo là ngày 8/12 âm lịch) đầu đêm Ngài chứng đặng Túc mạng minh, biết tất cả đời quá khứ, hiện tại, và vị lai; nửa đêm chứng đặng Thiên nhãn minh, thấy tất cả thế giới trong vũ trụ; cuối đêm chứng đặng Lậu tận minh, dứt sạch nguồn gốc mê lầm. Đến khi sao mai mọc thì trí giác mở mang như hoa sen trắng, Ngài liền chứng đặng Đạo Vô thượng mà thành Phật hiệu Thích-ca Mâu-ni.
H. lúc sắp Thành đạo Ngài có bị ai làm trở ngại không?
Đ. Có, bè đảng ma vương dùng mưu mô tài lợi mà dụ dỗ Ngài, dùng võ lực áp bức Ngài và dùng nữ sắc để mong làm xiêu lòng Ngài, song việc của
chúng làm điều vô hiệu, trái lại bị Ngài hàng phục tất cả.
H. Vì sao họ không muốn cho Ngài thành Phật?
Đ. Vì sợ Ngài thành Phật rồi đem giáo pháp ra hóa độ mọi người, làm cho họ mất uy tín quyền lợi. Vì xưa nay sở trường của ma đạo là dùng mê tín, mưu mẹo, uy lực, nữ sắc để cám dỗ người mà được sự tín mộ, nay nếu Phật truyền đạo giác ngộ ra, tất làm cho họ phải lúng túng.
H. Ngài chứng đạo rồi làm gì?
Đ. Ngài đem giáo pháp đã chứng ngộ đi truyền dạy cho nhân loại chúng sinh.
H. Những người theo làm đệ tử Ngài có đông không?
Đ. Đông lắm. Số người xuất gia và thường cùng theo Ngài có đến 1250 người. Ngoài ra có số xuất gia rải rác ở khắp nơi, còn số đệ tử tu tại gia thì vô số kể.
H. Ngày nay đệ tử của Phật có đông như thế không?
Đ. Hiện nay số tín đồ, Tăng đồ của Phật khắp thế giới, có đến khoảng 1/3 dân số trên hành tinh này.
H. Phật hóa độ những hạng người nào?
Đ. Tất cả các hạng người thuộc tất cả các nước, không phân biệt người nghèo khổ, tật nguyền hay hạng trưởng giả, quyền quý, vương hầu. Từ thanh niên đến già cả, đàn ông, đàn bà, ai cũng theo được.
H. Có ai cùng đi truyền đạo với Ngài không?
Đ. Có. Các đệ tử sau thời gian tu hành, cũng noi gương Ngài, rãi đi truyền đạo khắp bốn phương.
H. Phật và đệ tử đi truyền đạo có được người ta hưởng ứng không?
Đ. Có. Đến đâu Phật và đệ tử cũng đem lòng từ bi khuyến hóa một cách hòa dịu như mẹ hiền dạy con, chứ không dùng thế lực áp bức, nên dân chúng hưởng ứng và xin quy y rất đông. Có nhiều người cúng dường và lập chùa lập tinh xá để mời Phật ở lại.
H. Có ai làm trở ngại sự truyền đạo của Ngài không?
Đ. Có. Bên trong có ông Đề-bà-đạt-đa là người đã xuất gia, nhưng vì lòng hiếu danh đã chống Tăng hội bỏ đi, còn bên ngoài thì ngoại đạo Ba-la-môn khuấy phá, nhưng đều vô hiệu quả.
H. Phật đi thuyết pháp truyền đạo mấy năm?
Đ. Bốn mươi lăm năm. Cứ ngày đi tối nghỉ, mệt nghỉ khỏe đi, Ngài đi khắp đó đây truyền đạo cho đến ngày nhập Niết-bàn.
H. Ngài nhập Niết-bàn tại đâu?
Đ. Giữa rừng cây Sa-la song thọ, nhằm ngày rằm (trăng tròn) tháng hai.
H. Ngài nhập Niết-bàn lúc bao nhiêu tuổi?
Đ. Lúc 80 tuổi.
H. khi sắp nhập Niết-bàn Ngài di chúc gì không?
Đ. Ngài khuyên các đệ tử hãy lấy giới luật làm thầy và tinh tấn tu hành để được giải thoát.
H. Di hài của Ngài để đâu?
Đ. Dùng gỗ hương chiên-đàn mà hỏa táng (thiêu).
H. Sau khi nhập Niết-bàn, Ngài để lại cho thế gian những gì?
Đ. Ngài để lại cho thế gian hai thứ quý báu.
H. Hai thứ gì?
Đ. Một là Xá-lợi tức là hài cốt của Ngài, sau khi đốt rồi còn lại. Hai là Ba tạng kinh điển giáo pháp do Ngài dạy trong 45 năm.
H. Xá-lợi của Phật nay còn không?