CÂU ĐỐI THIỀN MÔN *
1. Câu đối tiếng Việt:
01. Sắc tướng vốn không, nương cảnh huyễn độ người mê muội;
Tử sanh nào có, mượn thuyền từ vớt kẻ trầm luân.
(Phụng điếu Đức Tăng Thống Thích Tịnh Khiết, chùa Tường Văn - Huế, 1972)
02. Một chút giân, hai chút tham, lận đận cả đời ri cũng khổ;
Trăm điều lành, ngàn điều nhịn, thong dong tấc da rứa mà vui.
(Tặng Giảng đường Từ Đàm - Huế)
03. Tánh lặng đất trời chung một cõi;
Tâm không trăng gió trải muôn phương.
04. Biển ái lấp bằng, Tịnh độ đi về đâu mấy chốc;
Sông mê tát cạn, Niết-bàn an trú vốn không xa.
(Tặng tháp Thượng tọa Thiện Lộc, chùa Thuyền Tôn - Huế)
05. Ngộ thấu nguồn chơn, tâm danh lợi trôi theo dòng nước;
Rõ cùng lý đạo, niệm thị phi bay lẫn chòm mây.
06. Cảnh Phật trang nghiêm, mõ sớm gõ tan hồn mộng ảo;
Cửa chùa thanh tịnh, chuông chùa ngân vọng tiếng từ bi.
(Tặng chùa Kim Quang - Nha Trang)
07. Lặng nhìn trăng sáng nước trong, đèn Bát-nhã chiếu tan niềm tục;
Lắng nghe kinh vàng kệ ngọc, tiếng Từ bi gõ thức tình thương.
(Tặng Khuông hội Phật giáo Lăng Cô và Tây Lộc - Huế)
08. Trừ vọng tưởng, dứt mê tình, nhắm thẳng một đường lên bờ giác;
Hết vô minh, sạch nghiệp chướng, giương cao đèn tuệ vượt sông mê.
09. Rũ sạch lòng trần, giọt nước cam lồ, rưới tắt não phiền chín cõi;
Mở tròn tuệ giác, soi đèn Bát-nhã, hiển bày tướng hảo ba thân.
10. Cá biết về nguồn thăm nghĩa cội;
Chim dần xa tổ nhớ ơn cây.
11. Tấc cỏ ngậm ngùi, hương khói tỏ lòng con cháu thảo;
Ba xuân thương nhớ, lớn không nhờ đức tổ tông hiền.
12. Mắt Trí rạng ngời, đèn vô tận chiếu tan niềm tục;
Tay Từ tế độ, nước dương chi gội sạch lòng trần.
(Tặng chùa Giác Hải, Nha Trang)
13. Cõi Ta-bà mê muội trầm luân, trống chuyển âm vang lời giác ngộ;
Cửa Tam quan tình thương rộng mở, chuông khua đồng vọng tiếng từ bi.
14. Hiu hiu gió thổi đầu cành, không thấy, thấy không tùy mắt ngắm;
Vằng vặc trăng soi đáy nước, thật hư hư thật hỏi lòng xem.
(Tặng chùa Thanh Phước - Huế)
15. Tiếng chuông Linh Mụ vọng về đâu, sáu nẻo luân hồi chúng sanh mong tế độ;
Cội cả tòng lâm đà ngã xuống, hai làng mê ngộ đệ tử xót bơ vơ.
(Điếu Hòa thượng Thích Đôn Hậu)
16. Sạch phiền não, hết tham sân, cửa Phật đây rồi thôi chạy kiếm;
Phá si mê, trừ nghiệp chướng, đường trần đó mặc hết trong tìm.
17. Cửa Không trống dậy mấy hồi, đọc kinh chú xua tan mộng ảo;
Cõi Phật chuông đưa vài chập, niệm Nam mô xóa sạch não phiền.
18. Lặng nhìn mây trắng núi xanh, hương giải thoát xông lừng cây cỏ;
Vẳng tiếng thông reo chim hót, gió từ bi thổi mát đất trời.
19. Mây núi chập chùng, trăng Bát-nhã lồng soi vũ trụ;
Cỏ hoa tươi tốt, gió Từ bi thổi mát sinh linh.
20. Đây chùa đây Phật, đây mõ sớm chuông chiều, nhắn nhủ khách trần về nẻo giác;
Này trăng này gió, này kinh vàng kệ ngọc, khuyên răn người tục bỏ đường mê.
21. Phật đạo có gì đâu, thả chiếc thuyền Từ chờ kẻ giác;
Pháp môn không kể xiết, khêu đèn Bát-nhã đón người mê.
22. Vô minh tham ái buộc ràng, đối cảnh sinh tình thêm lụy tục;
Bát-nhã từ bi giải thoát, xem kinh mở trí rạng lòng chơn.
23. Đạo tổ sáng hoài cỏ cây đượm nhuần mưa pháp;
Chùa xưa mới mãi cháu con tiếp nối đèn thiền.
24. Dứt sạch mê tình, nhắm thẳng một đường lên bờ giác;
Trừ không nghiệp chướng, giương cao đèn tuệ vượt sông mê.
25. Cảnh Phật trang nghiêm, mõ sớm gõ tan hồn mê muội;
Cửa chùa thanh tịnh, chuông chiều khua rã mộng ba sinh.
26. Không là sắc, sắc là không, chuỗi buộc lông rùa quét sạch ba ngàn thế giới;
Phật tức tâm, tâm tức Phật, mõ khua rừng thỏ tỉnh hồn ức triệu sinh linh.
27. Lặng nhìn trăng sáng nước trong, đèn Bát-nhã soi cùng vũ trụ;
Lắng nghe kinh vàng kệ ngọc, tiếng Từ bi dội khắp non sông.
28. Lặng nhìn trăng sáng nước trong, hương giải thoát xông ta niềm tục;
Lắng nghe kinh vàng kệ ngọc, tiếng Từ bi gõ thức tình thương.
29. Cõi Ta-bà mê muội trầm luân, trống chuyển âm vang lời Giác ngộ;
Cửa Tam bảo đạo tình mở rộng, chuông khua đồng vọng tiếng Từ bi.
30. Mười hiệu Phật, vài câu kinh, đánh thức ngàn năm mê muội;
Một hồi chuông, mấy nhịp mõ, gõ tan bao kiếp trầm luân.
31. Người nương pháp, phương nương người, động tịnh theo duyên tiêu nghiệp cũ;
Phật tức tâm, tâm tức Phật, xưa nay chẳng khác rõ lời chơn.
32. Cảm tác.
Năm tháng phù sanh diệt kiếp người,
Cuộc đời như thể áng mây trôi;
Buông tay mộng huyễn về theo Phật,
Chín phẩm đài sen ánh tỏa ngời.
II. Câu đối chữ Hán:
01. Nhập môn nghi xả dung thường tánh;
Đáo tự ưng sinh hoan hỷ tâm.
Vào cổng (chùa) hãy sinh tâm hoan hỷ;
Đến chùa nên bỏ tánh tầm thường.
02. Kim địa trúc Tòng lâm, cô nguyệt quang hàm không tức sắc;
Sơn đầu hưng bảo sát, quần loam thúy tỏa cổ do kim.
Đất báu lập Tòng lâm, trăng rọi ánh vàng không tức sắc;
Non cao dựng chùa Phật, núi phơi màu biếc, cổ như kim.
(Tặng Tòng lâm Lam Sơn ở đồi Lam Sơn, làng Lựu Bảo, Huế - 1968)
03. Hồ bạn khởi thiền quan, giáo diễn chơn thừa, nhất tánh viên minh hoàn bản Tế.
Sơn đầu khai thắng hội, thính lai thuyết pháp, thâm tâm tín nhạo ngộ tiền căn.
Bên hồ dựng chùa thiền, diễn dạy chơn thừa, một tánh viên minh về gốc cội;
Đầu núi khai hội pháp, nghe truyền chánh pháp, toàn tâm hỷ tín ngộ căn xưa.
(Tặng chùa Hồ Sơn do tổ Tế Căn lập tại Tuy Hòa, kiến thiết lại năm 1984)
04. Hàm long tái ngọ, đàm kinh phò luật xuất chân thuyên, ứng vật khúc trần, huề đăng thật địa;
Báo Quốc trùng quang, bát hỏa ma chuyên truyền tổ đạo, đương cơ trực chỉ, bất lạc kỳ đồ.
Núi Hàm Long trở lại giữa trưa, giảng kinh phò trì Giới Luật, nêu rõ lý mầu, ứng theo hoàn cảnh mà trình bày quanh co nhằm dìu dắt bước lên đất thật;
Chùa Báo Quốc trở lại rạng quang, bươi lửa mài gạch để truyền Tổ đạo, ngay vào căn duyên chỉ thẳng, trách nơi lạc đường chia.
(Câu đối bàn thờ Tổ chùa Bảo Quốc sau khi kiến thiết lại năm 1969)
05. Khiêm nhẫn hữu dư, phát ý viên thành Tam tụ giới;
Trí bi vô ngại, chung thân bất thối Tứ hoằng tâm.
Khiêm nhẫn có dư, một nguyện tròn thành Tam tụ giới;
Trí bi vô ngại, trọn đời chẳng thối Tứ hoằng tâm.
(Câu đối ở tháp Hòa thượng Thích Thanh Trí chùa Báo Quốc - Huế)
06. Chỉ đồ kiến tánh, ngôn hạ tri quy, thùy thị can đầu tấn bộ;
Bát thảo tham huyền, thanh tiền ngộ chỉ thỉ năng tâm nội thừa đương.
Trỏ đồ hình nhằm thấy tánh thật, ngay lời biết chỗ quay về, ai là người đầu sào tiến bước?
Khêu cỏ dại để tìm cơ huyền, ứng tiếng thông nơi ý chỉ, mới chính kẻ tự nội thừa đương.
(câu đối ở tháp chùa Báo Quốc - Huế và bàn thờ Tổ ở Long Sơn - Nha Trang)
07. Quảng đại hạnh, phát thâm tâm, bát thác mê vân, bất quyện hối nhân bồi Phật chủng;
Cứu chơn không, nghiên diệu chỉ, xung khai tuệ nhật, phùng tràng trác tích chấn tông phong.
Quảng khai đại hạnh, phấn phát tâm sâu, vén bớt mây mê, mệt mỏi chẳng nề, dạy người vun Phật chủng;
Thẩm cứu chân không, thâm nghiên ý diệu, mở ra vầng tuệ, ngay nơi duyên thuận, dựng gậy chấn Tông phong.
(Tặng tháp Hòa thượng Thích Trí Thủ chùa Báo Quốc - Huế)
08. Ngự lãnh thanh phong, phất diện vấn thùy năng tác Phật;
Bình tiền khô mộc, đãi nhơn tri ngộ vị khai hoa.
Gió lành trên đỉnh Ngự, phe phất trên mặt hỏi ai đâu sắp làm Phật?
Cây khô trước núi Ngự Bình, chờ người tri ngộ để cho nó nở hoa.
(Tặng Khuông hội Phật giáo Ngự Bình - Huế)
09. Tức nhục chi chơn, xứ xứ tận thành Hoa tạng giới;
Bội trần hiệp giác, tâm tâm viên nhiếp Đại thừa môn.
Tức tục mà chơn: nơi nơi đều thành Hoa tạng giới;
Trái trần hiệp giác, tâm tâm viên nhiếp Đại thừa môn.
(Tặng tháp HT. Mật Nguyện, chùa Trúc Lâm - Huế)
10. Quảng khai phương tiện môn, thiện xiển tần già phổ kiến pháp trang vu xứ xứ;
Hương biến trang nghiêm độ, tư bồi đạo thọ cao tiêu đức bổn ư trùng trùng.
Mở rộng cửa phương tiện, khéo xiển tần già dựng xây pháp tràng khắp chốn chốn;
Huân ướp đức trang nghiêm, bồi đắp đạo cả, tỏ gốc đức hạnh ở nơi nơi.
(Tặng Hòa thượng Thích Trí Thủ năm 1970)
11. Bội giác hiệp trần, mộng lý na tri thân thị huyễn;
Quy nguyên đắc chỉ, định trung thường chiếu Phật do tâm.
Trái giác hiệp trần, trong mộng chẳng hay thân là huyễn;
Về nguồn đặng gốc, lúc định thường thấy Phật tại tâm.
(Tặng chùa Hương Sơn - Huế)
12. Bảo ấn tông phong "Chỉ vật truyền tâm" nhất cú thoại đầu chơn liễu ngộ;
Tịnh quang cao đức, tùy duyên hóa đạo "Huyền nhai tán thủ" tận quan thông.
Tông phong bảo ấn, "Chỉ vật để truyền tâm", một câu thoại đầu tâm liễu ngộ;
Cao đức tịnh quang, tùy duyên hóa đạo, buông tay nơi vực thẳm trí dung thông.
(Tặng chùa Bảo Tịnh - Phú Yên)
13. Tục đoạn khởi thần chung thức đắc tiêm trần bất trước nhãn;
Vinh khô thành mộng huyễn giác lai thế giới tổng duy tâm.
Tiếng chuông khuya dứt nối, tính thức rồi mảy bụi trần không dính mắt;
Cảnh mộng huyễn tươi khô, rõ ràng được ba ngàn thế giới chỉ do tâm.
(Tặng chùa Tây Thiên - Huế)
14. Nhơn y pháp, pháp y nhơn, động tĩnh tùy duyên tiêu cựu nghiệp;
Phật tức tâm, tâm tức Phật, cổ kim bất nhị hợp chơn tông.
Người nương pháp, pháp nương người, động tĩnh tùy duyên tiêu nghiệp cũ;
Phật tức tâm, tâm tức Phật, xưa nay chẳng khác hợp chơn tông.
(Tặng cho một số chùa)
15. Hậu thương hải, tiền bích giang, thủy nguyệt ba quang tương ánh nguyệt,
Triêu kim kinh, mộ ngọc kệ, cổ chung thanh hưởng cộng diêu hưng.
Sau biển rộng, trước sông xanh, trăng nước chập chờn cơn sóng vỗ;
Sáng kim vàng, chiều kệ ngọc, trống chuông vang vọng tiếng xa gần.
16. Hoa bảo phiệt, phiến từ hàn, bạt tế ái hà danh lợi khách;
Diễn kim kinh, tuyên diệu kệ, hoán hồi khổ hải mộng mê nhơn.
Thả bè báu, dong thuyền từ, vớt khách lợi danh trên biển ái;
Diễn kinh vàng, tuyên kệ diệu, gọi người mơ mộng giữa sông mê.
(Tặng Khuông hội Phật giáo An Dương - Huế)
17. Phạm vũ biến trang nghiêm, thật phóng trùng tân cảnh sắc;
Liên đài thường xán lạn, vân khai hiển hiện tường quang.
Chùa Phật trang nghiêm. ảnh nhật linh tinh như cảnh sắc;
Đài quang vắng lặng, vầng mây hiển hiện tường quang.
18. Kiều thọ lăng không thất bảo trang nghiêm quang Phật sát;
Tòng lâm túng tú, tứ sơn loan bích ánh thiền quan.
Cây vút tầng không, bảy báu trang nghiêm cõi Phật;
Rừng tùng xinh tốt, bốn bề non biếc cửa Thiền.
19. Thiên bách ức kim thân, giáo pháp tuyên dương, nhiếp chúng sanh vu giác địa;
Tam thập nhị bảo tướng từ quang biến chiếu, cứu vạn loại xuất mê đồ.
Trăm ngàn ức kim thân. Chánh pháp tuyên dương, nhiếp hóa chúng sanh về nẻo giác;
Ba mươi hai bảo tướng, ánh từ chiếu khắp, dìu dắt muôn loài thoát đường mê.
(Ba cặp đối trên tặng chùa Bát Nhã - Phú Yên)
Cảnh trị u thâm, dã thảo nhàn hoa vong tuế nguyệt;
Sơn cư khoán hoạt thần chung mộ cổ liễu sắc không.
Gặp cảnh thâm u, cỏ nội hoa đồng quên năm tháng;
Ở non khoán hoạt, chuông chiều mõ sớm rõ sắc không.
21. Tuệ nhật cao huyền, phổ chiếu chúng sanh vu giác đạo;
Từ phong phổ phiến, tề tư vạn loại xuất mê tân.
Tuệ nhật treo cao, chiếu khắp quần sanh trên đường giác;
Gió từ phơ phất, mát cùng vạn loại khỏi bến mê.
22. Tận xả Tham, Sân, Si, đương thử độ nhi vi Tịnh độ;
Viên tu Giới, Định, Tuệ, tức phàm tâm hóa tức Thánh tâm.
Bỏ hết Tham, Sân, Si, chính tại đây là Tịnh độ;
Tu tròn Giới, Định, Tuệ, ngay phàm tâm là Thánh tâm.
(Tặng cho chùa Diên Bình - Quảng Trị)
23. Khánh trị u thâm, mộ cổ thần chung vong lụy kiếp;
Sơn cư khoán hoạt, nhàn hoa dã thảo liễu tam sanh.
Gặp cảnh u thâm, mõ sớm chuông chiều tan lũy kiếp;
Ở nơi khoáng hoạt, hoa đồng cỏ nội ngộ ba sanh.
(Tặng chùa Khánh Sơn - Huế)
24. Bái thủ chú đàn hương, tam thiên giới kiết tường vân, phụng kiến Như Lai liên tọa thượng;
Tín tâm trì Phật hiệu, bách bát thanh thành chánh niệm, kỳ sanh Tịnh độ bảo liên trung.
Tay sạch đốt hương đàn, thế giới ba ngàn kết mây lành, dâng hiến Như Lai trên bảo tọa;
Tâm thành trì hiệu Phật, trăm lẻ tám lần thành niệm chánh, cầu sanh Tịnh độ giữa hoa sen.
25. Tiền lục thủy, hậu thanh sơn, phạm vũ huy hoàng Phật quang biến chiếu;
Mộ kim kinh, triêu ngọc kệ, trần tâm địch tận chánh niệm phân minh.
Trước nước biếc, sau non xanh, Phạm vũ huy hoàng Phật quang biến chiếu;
Chiều kinh vàng, sáng kệ ngọc, lòng trần gột sạch, chánh niệm phân minh.
(Tặng chùa Hải Ấn - Nha Trang)
26. Phật bất ly tâm, động tịnh tùy duyên tiêu cựu nghiệp;
Chí tồn đại đạo, khứ lai vô ngại ngộ thiền cơ.
Phật chẳng lìa tâm, động tĩnh tùy duyên tiêu nghiệp cũ;
Chí nơi đạo cả, đến đi vô ngại ngộ cơ thiền.
27. Trí tuệ tâm khai, lũy kiếp hôn mê tùng tiệt đoạn;
Từ bi niệm khởi, đa sanh nghiệp chướng tự tiêu vong.
Tâm trí huệ mở bày, vạn kiếp hôn mê liền dứt sạch;
Niệm từ bi dấy khởi, nhiều đời nghiệp chướng tự tiêu vong.
28. Chấp ngã chấp nhơn, kiến sắc văn thanh, thành quá hoạn;
Tu bi tu trí, cử tâm động niệm, nhậm dung thông?
Chấp ngã chấp nhơn, thấy sắc nghe thanh đều tội lỗi?
Tu bi tu trí, khởi tâm động niệm thảy dung thông.
(Tặng Khuông hội Phật giáo An Bằng - Huế)
29. Ly tứ cú, tuyệt bách phi, tự thử vong ngôn, chân hữu đạo;
Triền lục căn, tịnh tam nghiệp, chỉ ư tức niệm chứng vô sanh.
Dứt trăm quấy, lìa bốn câu, tự chỗ vong ngôn mới thật đạo;
Xoay sáu căn, sạch ba nghiệp, chính nơi dứt niệm ấy vô sanh.
30. Tùy kỳ thiện nguyện, tiếp độ vi sư, duyệt chúng tâm ư đại đạo;
Thí vô duyên từ, tác bất thỉnh hữu, phá nghi võng ư u đồ.
Theo thiện nguyện nó, tiếp độ cho làm thầy, tâm chúng được vui trong đạo lớn;
Thí vô duyên từ, làm người bạn không thỉnh, lưới nghi phá sạch, giữa đường mê.
31. Phản vọng quy chơn, nhất niệm hồi đầu tức bỉ ngạn;
Tầm ngưu phỏng tích, tam quan tham thấu nhập không môn.
Bỏ vọng về chơn, một niệm quay đầu là bến giác;
Tìm trâu hỏi dấu, ba quan (cửa ải) tham thấu tới cửa không.
(Tặng chùa Kim Quang - Huế)
32. Pháp bản như như, mê chi giả vị sắc vị thanh, ngộ chi giả phi không phi hữu;
Tâm nguyên tịch tịch, tức hồ thử vi thiện vi lạc ly hồ thử thị khổ thị ưu.
Gốc pháp như như, người mê nó thì bảo là sắc là tiếng, người ngộ nó thì chẳng không chẳng có;
Nguồn tâm lặng lặng, tức nơi đây là lành là vui, lìa nơi đây thì khổ thì lo.
(Tặng chùa Bảo Lộc - Lâm Đồng)
33. Pháp thủy trường lưu xứ xứ nhuận tiêu khô, túng ngộ thạch bàn, bất đoạn Tào Khê cam lồ mạch;
Từ phong phổ phiến, thời thời thôi nhiệt não, thiết tao lam khí, nhưng hội liên trì giải thoát hương.
Dòng nước pháp chảy dài, chốn chốn tưới nhuần tiêu khô hạn, dẫu gặp đá bàn vẫn không dứt mạch Tào khê Cam lộ;
Ngọn gió từ thổi khắp, thời thời xua nhiệt đẩy sầu lo, dù vào khí chướng mà cứ nồng hương Giải thoát Liên trì.
34. Kỷ độ công huân trường hạo nguyệt,
Nhất sanh kỳ thí túng cao phong;
Mấy độ công huân dài cùng trăng sáng;
Một đời kỳ khí ngút tận núi cao.
35. Thử địa hữu duyên tàng tịnh cốt,
Giá sơn đắc dự ngộ chân nhân.
Đất ấy duyên may chôn tịnh cốt;
Núi này vinh dự gặp chân nhân.
(Câu đối ở tháp Hòa thượng Thích Thiện Minh, chùa Thiền Tôn - Huế)
36. Trúc thanh, tùng thanh, chung khánh thanh thanh thanh vô ngại;
Sơn sắc, thủy sắc, yên hà sắc, sắc sắc giai không.
Tiếng trúc, tiếng tùng, tiếng khánh chuông, tiếng tiếng đều chẳng ngại;
Màu non, màu nước, màu mây khói, màu màu cũng vẫn không.
37. Tích nhật dĩ tằng vi hiếu tử, vi minh quân, xả mạng thí thân, cứu hộ chúng sinh xuất mê đồ khổ thú;
Kim sinh hựu phục khí quốc thành, khí trân bảo, hàng ma sát tặc, viên thành chánh quả khai giác lộ thiền môn.
Xưa ấy từng làm con hiếu, làm vua hiền, xả mạng, bỏ thân, giúp chúng sanh khỏi đường mê lối khổ;
Đời này lại bỏ quốc gia, bỏ của báu, hàng ma, giết tặc, thành chánh quả khai nẻo Giác cửa thiền.
38. Thị chúng sinh như xích tử, khởi ngộ trừ mê, bi cực tam luân khuếch ngũ thừa nhi thùy phạm;
Đỗ pháp giới nhược không hoa, triền căn tuyệt tướng, trí viên thập lực đào vạn tượng dĩ nghiêm qui.
Xem chúng sanh như con đỏ, khai ngộ trừ mê, lòng xót tam luân, mở ngũ thừa mà ban khuôn phép;
Ngắm pháp giới tợ hoa không, bỏ căn dứt tướng, trí hòn thập lực, suy vạn tượng để lập nghiêm qui.
39. Phạn thục dĩ đa thì, chỉ đồ kiến tánh ngôn hạ tri quy, bách xích can đầu trung tấn bộ,
Tảo tri đăng thị hỏa, bát thảo tham huyền thinh tiền ngộ chỉ, nhất luân minh nguyệt dạ truyền y.
Cơm chín đã từ lâu, trỏ tranh hình, thấy tâm tính; lời dứt biết ngay chỗ về, đầu sào trăm thước còn cất bước;
Sớm hay đèn là lửa, trừ cỏ rối, tham diệu huyền, tiếng truyền ngộ liền ý chỉ, trăng sáng một vầng, tối truyền y.
40. Bát-nhã bổn vô ngôn, ly cứ tú, tuyệt bách phi, ứng hóa tùy duyên thuyết vô lượng vô biên diệu pháp;
Bồ-đề tiên hữu nguyện, chứng tam minh, cụ ngũ nhãn, câu viên phước quả thành đại hùng đại lực từ tôn.
Bát-nhã vốn không lời, rời bốn vế, trừ trăm không, ứng hóa tùy duyên, giảng diệu pháp vô lượng, vô biên;
Bồ-đề cần có nguyện, chứng tam minh, đủ năm mắt, tròn đầy quả phúc,thành từ tôn đại hùng, đại lực.
41. Chí đạo bất ngại ngôn ngôn thuyên, tức tục tức chơn, đốn ngộ khẳng thừa đương, vận thủy bang sài giai diệu dụng;
Nghi tình nhất phiên khám phá, phi tâm phi vật, bổn lai chơn diện mục, ma chuyên thị chỉ tổng thiền cơ.
Đạo rốt ráo đâu ở thuyết đàm, là tục, là chơn, ngộ liền vẫn vậy, gánh nước nôi, chặt củi nè đều là diệu dụng;
Tình nghi nan một khi khám phá, chẳng tâm, chẳng vật, mặt mũi xưa nay, mài ngói gạch, giơ ngón tay cũng chỉ thiền cơ.
(Tặng chùa Thiền Tôn - Huế)
42. Vĩnh khí tà tư quy hướng Phật đà tăng phước lạc;
Quang hàm vạn tượng trượng bằng tuệ nhật phá sân si.
Mãi bỏ ý tà, qui hướng Phật đà, thêm phước lạc;
Bao gồm vạn vật, nương theo vầng tuê, phá sân si.
43. Nhập giải thoát môn, thiết đoạn tham sân si mạn hữu lậu nghiệp;
Chứng Tam Bảo địa, thường hành từ bi hỷ xả vô lượng tâm.
Vào cửa giải thoát, nghiệp hữu lậu tham sân si mạn phải quyết dứt trừ;
Chứng miền Tam Bảo, tâm vô lượng từ bi hỷ xả cần luôn thực hiện.
(Tặng chùa Vĩnh Quang)
44. Lý nguyệt lưỡng biên tức tâm tức vật;
Đạo vô đốn tiệm phi thật phi quyền.
Lý dứt hai bên, là tâm là vật;
Đạo không mau chậm, chẳng thật chẳng quyền.
45. Vệ già lam nhi thanh tịnh;
Hộ Phật pháp dĩ trường tồn.
Giúp già lam thành thanh tịnh,
Hộ Phật pháp được trường tồn.
46. Chân tục hỗ dung duyệt đệ nhất nghĩa;
Tự tha khiêm lợi nhập bất nhị môn.
Chân tục đều thông, nêu nghĩa đệ nhất;
Ta người cùng lợi, vào cửa không hai.
47. Bảo địa trang nghiêm, sắc hương bất dị;
Phật ngôn quảng đại xuất nhập tùy duyên.
Đất báu trang nghiêm, sắc hương không khác;
Cửa Phật quảng đại vào tùy duyên.
48. Nhập thử môn vô tham sân si mạn;
Đăng thị địa, hữu hùng lực từ bi.
Vào cửa đây, không tham, sân, si, mạn;
Lên đất này, có hùng, lực, từ, bi.
49. Phước tuệ viên tu chơn Phật tử;
Trí bi song vận đại từ tôn.
Phước tuệ tròn tu chính người Phật tử;
Trí bi đầy đủ, ấy bậc đại từ.
50. Cứu khổ tầm thanh Quán Tự Tại;
Từ bi nguyện lực Diệm NhiênVương.
Quán Tự Tại tìm tiếng kêu cứu khổ nạn;
Diệm Nhiên Vương theo sức nguyện tỏ từ bi.
(Câu đối tặng Chùa Già Lam, Tp. Hồ Chí Minh)
51. Đại từ Đại bi mẫn chúng sanh, ứng hóa tùy duyên thân kỳ thân nhi địa kỳ địa;
Đại hỷ đại xả tế hàm thức, oai đức tự tại thánh trung, thánh nhi thiên trung thiên.
Đại từ đại bi thương xót chúng sanh, theo duyên ứng hóa, thân với thân như đất với đất;
Đại hỷ đại xả cứu tế vạn loài, oai đức tự tại, thánh trong thánh như trời trong trời.
52. Từ nhãn quán chúng sanh ư trí ư ngu thị đồng nhất tử;
Tôn phong thành Phạm vũ thị không thị sắc nhập bất nhị môn.
Mắt thương nhìn chúng sanh, kẻ trí kẻ ngu đều là con cả;
Tôn phong xây chùa Phật, ấy không ấy sắc vào cửa không hai.
(Tặng chùa Từ Tôn - Biên Hòa)
53. Hai bài kệ thỉnh chuông u minh:
Nguyệt thử chung thinh siêu pháp giới,
Thiếu vi u ám tức giai văn,
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông,
Nhất thiết chúng sinh thành chánh giác.
Nguyện tiếng chuông này lan khắp nơi,
Tận cùng hang thẳm đến muôn loài,
Nghe chuông lóng sạch lòng ô trược,
Hưởng cảnh an vui giữa cuộc đời.
54. Kệ nghe chuông:
Văn chung thinh, Phiền não khinh,
Trí tuệ trưởng, Bồ đề sinh,
Ly địa ngục, Xuất hỏa khanh,
Nguyện thành Phật, Độ chúng sinh.
Nghe tiếng chuông, Phiền não nhẹ,
Trí tuệ lớn, Bồ đề sanh,
Lìa địa ngục, Thoát hầm lửa,
Nguyện thành Phật, Độ chúng sinh.
55. Tặng sư bà Diệu Không nhân ngày mừng thọ 85 tuổi:
Đạo thọ hoa khai hương mãn kỉnh;
Tùng lâm nguyệt hiện điểu qui sào.
Cây đạo nở hoa đường hương ngập;
Rừng thiền trăng sáng tổ chim về.
56. Viết cho chùa Linh Sơn Pháp Bảo ở Nha Trang - Khánh Hòa.
Tham thiền tu thấu tổ sư quan, văn tự hề vi trọng tại niêm hoa vi tiếu,
Diệu ngộ yếu cùng tâm lộ tuyệt, ngữ ngôn hà dụng toàn bằng khấu chỉ tam thanh.
Tham thiền phải lọt qua cửa Tổ, văn tự đâu cần, khi nêu hoa mỉm miệng;
Ngộ đạo cần dứt tuyệt đường tâm, ngữ ngôn nào kể, lúc tay khẩy ba lần.
57. Tặng chùa Vô Ưu - TP. Hồ Chí Minh
Hoằng thí đại nguyện, ngọc chất giáng hoàng cung, phún thủy cửu long tề mộc dục;
Vi độ quần sanh, kim thân tu tuyết lãnh, hàm hoa bách điểu cạnh triêu tham.
Rộng thi nguyện lớn, chất ngọc giáng cung vua, chín rồng phun nước tắm;
Nhằm độ quần sanh, thân vàng tu núi tuyết, trăm chim ngậm hoa chầu.
58. Tặng chùa Vạn Đức - TP. Hồ Chí Minh
Vạn pháp nhất như tức tục tức chơn quy giác đạo;
Đức đồng pháp giới đàm không đàm hữu chuyển mê tâm.
Muôn pháp nhất như, là tục là chân, qui đường giác;
Đức tròn pháp giới, bàn không bàn có chuyển tâm mê.
(*) Sưu tập chưa đầy đủ.