dường, vì các A-la-hán ở trong Phật pháp có thể thành tựu việc lớn, đã phá giặc phiền não, cùng với Phật ngồi trên giường giải thoát.
Lại nữa, Trưởng lão A-nan đối với các kinh đã thường nghe, thọ trì, đọc tụng thông lợi, quán sát nên trí tuệ nhiều mà sự nhiếp tâm ít. Hai thứ công đức này phải bằng nhau, mới có thể được lậu tận; vì lẽ đó mà A-nan còn lại vị học nhân Tu-đà-hoàn.
42. Tên A-nan là do ai đặt? Thích-ca Văn Phật đời trước là người thợ làm ngói tên là Đại Quang Minh (Prabhasa). Bấy giờ có Phật hiệu là Thích-ca Văn, đệ tử tên là Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, A-nan. Phật và đệ tử cùng đi đến nhà người thợ làm ngói nghỉ một đêm. Bấy giờ người thợ ngói cúng dường Phật và Tỳ-kheo Tăng ba thứ: chiếu cỏ, đèn và mật, rồi phát nguyền rằng: "Đương lai trong đời năm ác, già, bệnh, chết, khổ não tôi sẽ làm Phật cũng hiệu là Thích-ca Văn như Phật ngày nay". Do lời nguyện của chư Phật như vậy mà được tên là A-nan.
Lại nữa, A-nan đời đời lập nguyện rằng: "Ta ở trong chúng đệ tử đa văn của Phật Thích-ca văn, nguyện là bậc nhất và tên là A-nan".
Lại nữa, A-nan đời đời nhẫn nhục, trừ sân hận, vì nhân duyên ấy, khi sanh ra đoan chánh. Cha mẹ
vì chỗ đoan chánh làm cho ai thấy cũng đều hoan hỷ, nên đặt là A-nan.
A-nan, Trung Hoa dịch là Hoan hỷ. Đó là tên do nhân duyên đời trước. Nhân duyên do cha mẹ đặt tên như thế nào? Xưa có vua Nhật Chủng (dòng mặt trời) tên là Sư Tử Hiếp (Simhahanu). Vua có bốn người con trai, người con thứ nhất tên là Tịnh Phạn (Sudhodana), thứ hai tên Bạch Phạn (Suklodana), thứ ba tên là Hộc Phạn (Pronodana), thứ tư tên Cam Lộ Phạn (Amrtodana) và một người con gái tên là Cam Lộ Vị (Amrtàrasa). Vua Tịnh Phạn có hai con trai là Tất-đạt-đa và Nan-đà. Vua Bạch Phạn có hai con trai là Bạt-đề và Đề-sa (Bhadrika và Tisya). Vua Hộc Phạn có hai con trai là Đề-bà-đạt-đa và A-nan (Devadatta và Ananda). Vua Cam Lộ Phạn có hai con trai là Ma-ha-nam và A-nê-lô-đậu (Mahanaman và Anurudha). Công chúa Cam Lộ Vị cso một con trai tên Thi-bà-la (Danapala).
Trong số đó, Bồ-tát Tất-đạt-đa, dần dần lớn lên, bỏ địa vị Chuyển luân Thánh vương, nửa đêm xuất gia, đi đến trong nước Â-lâu-tỳ-la (Uruvela) bên bờ sông Ni-liên-thuyền, sáu năm khổ hạnh.
Vì thương nhớ con nên vua Tịnh Phạn thường sai sứ đi tìm, muốn biết tin tức con mình đắc đạo chăng? Bệnh hay chết? Sứ giả trở về tâu vua: "Bồ-tát chỉ còn da bọc xương gân, thân mạng rất suy vi;
hoặc nay, hoặc mai, chẳng còn bao lâu nữa". Vua nghe nói hết sức sầu nhớ, chìm trong biển ưu não mà than: "Con đã không làm Chuyển luân vương lại không được làm Phật, sao lại chỉ chịu suy nhược khổ sở, không được chi cả, mà chết". Vua ưu não như vậy đến hoang mang, mờ mịt, bối rối, bế tắc!
Lúc ấy Bồ-tát bỏ lối tu khổ hạnh, ăn cháo sữa trăm vị, thân thể no đủ, xuống sông Ni-liên-thuyền tắm rửa xong, đi đến dưới cội Bồ-đề, ngồi tòa Kim-cang mà thề rằng: "Ta thề không bỏ chỗ ngồi kiết-già này cho đến khi thành đạt Nhất thiết trí, nếu không đạt được Nhất thiết trí, thì không rời khỏi chỗ này".
Nghe vậy, Ma vương dẫn chúng mười tám vạn ức đến chỗ Bồ-tát, dám thuyết hơn thua cùng Bồ-tát. Bồ-tát dùng sức trí tuệ cả phá Ma quân. Ma không hơn được phải rút lui mà tự nghĩ: "Không thắng được Bồ-tát thì hãy đến làm khổ cha của người", liền đến chỗ vua Tịnh-phạn nói dối rằng: "Con ông vừa cuối đêm nay đã qua đời rồi". Vua nghe lời ấy, sỡ hãi té trên giường, như cá vùi trong cát nóng. Vua khóc và nói:
" A-di-đà (Ajita-A-tư-đà) nói quấy,
Điềm lành cũng chẳng linh,
Được lợi, tiếng thơm tho,
Tất cả đều chẳng có".
Bấy giờ thọ thần Bồ-đề rất hoan hỷ, cầm hoa trời Mạn-đà-la đến chỗ vua Tịnh Phạn nói kệ:
"Con Ngài đã đắc Đạo,
Đã phá tán chúng Ma,
Sáng như mặt trời mọc,
Soi thấu cả mười phương,
Hoan hỷ được lợi lớn,
Giải thoát hết thảy khổ,
Nay đã chuyển xe pháp,
Không đâu không thanh tịnh".
Vua nói: "Trước đây có một vị Trời đến nói con ta đã chết, nay ngươi nói với con ta há hoại Ma quân, đắc Đạo, hai lời nói trái nhau, biết ai đáng tin?" Thần cây lại nói: "Thật không vọng ngữ. Vị trời trước nói dối đã chết, đó là Ma ôm lòng ganh tỵ, nên đến xúc não. Ngày nay các vị Trời, Rồng và Thần đem hoa hương cúng dường, giăng đầy giữa hư không. Con ngài thân phóng ra ánh sáng chiếu khắp trời đất".
Vua nghe lời ấy, cởi bỏ tất cả tâm ưu sầu khổ não, nói: "Con ta tuy bỏ ngôi Chuyển luân Thánh vương, nay được ngội pháp Chuyển luân vương, thật là đại lợi, chẳng mất mát gì", nên lòng vua rất hoan hỷ.
Ngoài ra có sứ giả của Hộc Phạn vương đến tâu cùng Tịnh-phạn vương: "Hộc-phạn vương vừa