"Chư hạnh vô thường,
Thị sanh diệt pháp,
Sanh diệt diệt dĩ,
Tịch diệt vi lạc"
(Các pháp đều sanh diệt vô thường, chấm dứt sự sanh diệt thì được tịch diệt an vui).
II. Đức Phật giáng sinh:
Ấn Độ thuở xưa bao gồm nhiều nước nhỏ, tựu trung có 16 nước danh tiếng (theo kinh Nhân vương):
1. Ma-kiệt-đà (Magadha, thành Vương Xá, La-duyệt-kỳ)
2. Tỳ-xá-ly (Vesali, Vaisali)
3. Kiều-nhất-la (Kosala)
4. Thất-la-phiệt, Xá-vệ (Sravasti, Savathi)
5. Chiêm-ba (Campa)
6. Ba-la-nại-ty (Baranassi)
7. Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu)
8. Câu-thi-na (Kusinara)
9. Kiều-diệm-di (Kosambi)
10. Bát-đá-la (Pancala)
11. Ba-ra-lị-phất (Pataliputra-Hoa thị thành)
12. Mạt-thể-la (mathura)
13. Ô-thi (Usa)
14. Bôn-tra-bạt-đa (Pungavardhana)
15. Bồ-đề-bạt-đa (Devatara)
16. Ca-thi (Kasi)
Trong thời Phật tại Ấn Độ có 16 nước lớn, theo một tài liệu khác:
1. Kasi: (Ca-thi) đô ở Varanasi nay là nước Bénarès trên bờ sông Ganges, giữa nước Kosala và Magadha.
2. Kosala đô ở Savathi (Xá-vệ) gần Népal, có thành Kapilavastu (Ca-tỳ-la-vệ)
3. Anga đô ở Champa phía đông Magadha.
4. Magadha (Ma-kiệt-đà) đô ở Rajagaha (Ba-liên-phất, Palatiputa, Vương-xá) phía bắc sông Ganges, Tây giáp sông Sona.
5. Vajji đô ở Vaisali, gồm nhiều giống Vajjis (Bạt-kỳ), Vaisali, Inatukas.
6. Mala có 2 khu Kusinara (Câu-thi-na) và khu Pava, nhưng đều ở dưới chính phủ Cộng hòa Trung ương.
7. Chedi 2 hạt: một miền núi nay thuộc Népal và một miền gần Kosambi.
8. Vamsa đô ở Kosambi.
9. Kutu đô ở Indraprastha gồm New Delhi. Phật có thuyết kinh Mahasatithana cho dân xứ này.
10. Panchala đô ở Kampilya.
11. Matisiya đô ở Virata.
12. Sarasena đô ở Mathura
13. Assaka đô ở Patama
14. Avanti
15. Gandha (Câu-đà-ra) nay là Kanddakar gần vùng Kashmir và Taxila.
16. Kamboja đô Dvaraka.
Nước Ca-tỳ-la-vệ ở phía Bắc Trung Ấn, phía nam chân núi Hy-mã-lạp, phía Tây sông Tô-miện-ni thuộc xứ Népal ngày nay.
Lúc ấy nước Ca-tỳ-la-vệ ở dưới quyền cai trị của Tịnh Phạn vương dòng họ Thích-ca, một nhánh của họ Kiều-đáp-ma (Cù-đàm, Gotama) thuộc giai cấp Sát-đế-lợi. Hoàng hậu nước này là Ma-da phu nhân. Vua và hoàng hậu tuổi đã lớn mà chưa có con nên ngày đêm cầu nguyện và sống một cuộc đời trong sạch phước đức để mong sanh quý tử. Bồ-tát Thánh Thiện Bạch đã quán thấy gia đình vua Tịnh Phạn xứng đáng cho Ngài thác sanh, nên Ngài đã cho bà Ma-da nằm mộng.
Vào một đêm trăng sau khi chính tay hoàng hậu đã mở một cuộc bố thí vô giá tặng phát đồ vật cho mọi người, bà nghỉ tại tiêu phòng trong một giấc ngủ thành thơi thoải mái. Bỗng bà mộng thấy một con voi trắng 6 ngà trẻ trung oai vệ mang hoa sen trăng, từ trên trời tuốt xuống bên hông bà trong lúc giữa hư không có tiếng thì thầm: " Hỡi ai có
lắng nghe, hãy thức dậy, hỡi ai còn ngái ngủ, đức Phật đã đến quả đất này để dạy bảo cho các người".
Bà liền thức dậy báo tin cho vua Tịnh Phạn hay, vua cho mời các vị Ba-la-môn khác phái đến đoán mông, Họ đã đoán rằng: "Ồ, kính thưa hoàng hậu của cõi trời, đức vua của dòng họ Thích, đức bà Ma-da sẽ làm mẹ của vị thánh Giác ngộ cao cả mà Ngài đã đến quả đất này như con voi trắng".
Từ đó hoàng hậu thụ thai. Bà càng tinh tấn đạo hạnh. Sau những tháng ngày hoan hỷ, đến lúc sắp sinh, theo tục lệ Ấn Độ, bà phải về cha mẹ. Có các nữ tỳ săn sóc hầu hạ bà đi về nước Câu-ly. Nhân lúc dạo chơi trong vườn Lâm-tỳ-ni (Lumbini) thấy cây Vô ưu trổ hoa tươi tốt, bà dang tay toan hái thì liền Đản sanh thái tử nhằm lúc ban mai, ngày trăng tròn tháng 4 Ấn Độ (về niên đại đức Thích-ca giáng sinh có nhiều thuyết khác nhau). Bỏ ngoài các thuyết không có bằng cớ, còn các thuyết có bằng cớ có thể chia ra hai nhóm như sau:
Nhóm thứ nhất
1. Phật sử Tây tạng: 626 năm trước kỷ nguyên Tây lịch.
2. Phật sử Tích Lan: 624 năm trước kỷ nguyên Tây lịch.
3. Bia Buddhagaya: 623 năm trước kỷ nguyên Tây lịch.
Nhóm thứ hai
1. Chúng Thánh Điển Ký: 566 năm trước kỷ nguyên Tây lịch.
2. Thiện kiến luật : 559 năm trước kỷ nguyên Tây lịch.
3. Bia Phật ở Miến Điện: 561 năm trước kỷ nguyên Tây lịch.
Trong các thuyết có giá trị khác nhau, nếu so sánh với các niên đại dịch kinh của các vị tổ sư ở Ấn Độ sang Trung Hoa thì niên đại giáng sinh của Phật theo sử đảo Tích Lan là đúng hơn cả.
Lúc Ngài mới sinh có nhiều điều lạ xuất hiện như cây khô đâm chồi nở bông, nước đục hóa trong, người bệnh tật được khỏe, quả đất sáu cách rung động v.v... Lại có thiên phong phun nước tắm cho Ngài, Phạm thiên đem áo dâng và tán hoa mừng Ngài. Ngài tự đi bảy bước, mỗi bước đều có bảy hoa sen tự nhiên hiện ra đỡ chân. Ngài đưa một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất dạy rằng: "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn". (Trên trời dưới đất duy chỉ có Ta là tôn quý)(1) dạy xong nằm xuống như mọi trẻ thông thường.
(1) theo kinh Tạng Pali ghi: "Ta là bậc tối thượng ở trên trời, Ta là bậc tối tôn ở trên trời, Ta là bậc cao nhất ở trên trời, nay là đời sống cuối cùng, không còn phải đi tái sanh ở đời này nữa".
Vua Tịnh Phạn và triều đình hay tin, mừng rỡ rước Ngài về cung ban các ấn chỉ, tha giảm cho những kẻ tù tội, bố thí cho những người nghèo khó và mời các thầy tướng giỏi đến xem tướng thái tử. Các thầy tướng tuy ai xem cũng biết là tổ, nhưng chẳng biết tốt đến bực nào, nên đồng thanh tâu vua xin mời đạo sĩ A-tư-đà (Asista) hiện tu ở Tuyết sơn, về xem tướng thái tử, vì ông ấy đã tu luyện được phép ngũ thông, đạo lực cao cường, thấu suốt mọi việc quá khứ, hiện tại, vị lai. Vua tán đồng và định sai người đi rước thì vua nghe tin ông A-tư-đà đến xin yết kiến thái tử. Vua mừng mời vào. Vừa thấy thái tử ông ta liền quỳ xuống vái chào và cung kính xem tướng, xem xong, bỗng nức nở khóc. Vua tưởng có điều gì không hay, vội hỏi thì ông tâu rằng: "thái tử tướng tốt tột bực, đủ cả 32 tướng đại nhân và 80 vẻ đẹp. Theo Luận Đại Trí Độ tập 1 phẩm Bồ-tát thì 32 tướng đó là: 1.Lòng bàn chân bằng phẳng, 2. Lòng bàn chân có tướng bánh xe đủ ngàn năm, 3. Ngón chân thon dài, 4. Gót chân rộng và bằng, 5. Ngón chân, ngón tay có lưới lụa xòe như của chim Nhạn, 6. Tay chân mềm mại, 7. Mu bàn chân cao và đầy, 8. Bắp đùi như nai chua Y-nê-diên, 9. Khi đứng thẳng, ngón chân sờ đến đầu gối, 10. Tướng âm tàng như trâu chúa, 11. Thân cao và rộng cân đối như cây Ni-câu-loại, 12. Lông trên thân mọc xoay hướng lên,
13. Mỗi lỗ chân lông có một sợi lông, 14. thân sắc vàng như màu hoàng kim, 15. Có ánh sáng một trượng; 16. Da mỏng, min, 17. Bảy chỗ trên thân đều đặn, 18. Dưới hai nách đầy đặn, 19. phần thân trên như sư tử, 20. Thân to lớn và thẳng, 21. vai tròn và đẹp, 22. Có 40 cái răng, 23. Răng đều đặn, 24. Răng trắng trong, 25.Hai má như Sư tử, 26. Được thượng vị trong các vị, 27. Lưỡi rộng, dài, 28. có âm thanh như của trời Phạm thiên, 29. Mắt xanh biếc, 30. Lông mi như trâu chúa, 31. Nhục kế ở trên đầu, 32. Tướng lông trắng giữa hai chân mày và 80 vẻ đẹp là: 1. Đỉnh đầu không thể thấy, 2. mũi, thẳng, cao, đẹp, lỗ mũi kín, 3. Mí mắt như trăng mới mọc, có màu xanh lưu ly, 4. Vành tai mọc sáng khi đi thòng xuống, 5. thân chắc thật như lực sĩ trời Na-la-diên, 6. Khớp xương như móc câu, 7. Mỗi lần thân xoay như voi chúa, 8. Khi đi chân cách đất bốn tấc,có dấu ấn hiện trên đất, 9. Móng tay màu đồng đỏ, mỏng và mướt, 10. Xương đầu gối cứng, tròn, đẹp, 11. Thân sạch sẽ, 12. Thân mềm mại, 13. Thân không cong, 14. Ngón tay tròn,thon, 15. Ngón tay đẹp, 16. Mạch sâu, 17. Mắt các kín, 18. Thân mịn màng, 19. Thân vững chắc, đi không xiêu vẹo, 20. Thân đầy đặn, 21. Thức đầy đủ, 22. Dung nghi đầy đặn, 23. Chỗ ở yên ổn không thể động, 24. Uy đức chấn động hết thảy, 25. Mọi người đều ưa xem, 26. Mặt không lớn dài,
27. Dung mạo đẹp đẽ, không pha tạp, 28. Mặt đầy đủ, 29. Môi đỏ như màu trái Tần-bà, 30. Âm vang sâu lắng, 31. Rốn sâu, tròn, đẹp, 32. lông trên thân xoay về phía hữu, 33. Tay đầy đủ, 34. Tay chân vừa ý, 35. Chỉ tay rõ ràng, ngay thẳng, 36. Chỉ tay dài, 37. Chỉ tay không dứt, 38. Chúng sinh ác tâm trông thấy hòa vui, 39. Mặt rộng, đẹp, 40. Mặt đầy đặn, trong sáng như trăng, 41. Theo ý chúng sinh vui vẻ cùng nói, 42. Lỗ chân lông tỏa mùi thơm, 43. Miệng tỏa mùi thơm, 44. Nghi dung như Sư tử, 45. Đi đứng như voi chúa, 46. Cách đi như ngỗng chúa, 47. Đầu như quả Ma-la-đà, 48. Âm thanh rõ ràng, 49. Răng bén, 50. Sắc lưỡi màu hồng, 51. Lưỡi mỏng, 52. Sắc lông màu hồng, 53. Lông trong sạch, 54. Mắt rộng, dài, 55. Tướng các khiếu (lỗ) đầy đủ, 56. Tay chân trắng thuần như hoa sen. 57. Rốn không bày, 58. Bụng không bày, 59. Bụng nhỏ, 60. Thân không khuynh động, 61. Thân chắc nịch, 62. Phần thân lớn, 63. Phần cao ráo, 64. Tay chân sạch, mềm mại, 65. Hào quang thân dài một trượng, 66. Thân chiếu sáng khi đi, 67. Xem chúng sinh bình đẳng, 68. Không khinh chúng sinh, 69. Theo âm thanh của chúng sinh không quá, không giảm, 70. Thuyết pháp không sai khác, 71. Tùy theo ngôn ngữ của chúng sinh mà thuyết pháp, 72. Một lần phát âm, tiếng vang đến nhiều người, 73. Có nhân duyên theo thứ lớp
thuyết pháp, 74. Có tướng hết thảy chúng sinh không thể xem hết được; 75. Người xem không nhàm chán, 76. Tóc dài, đẹp, 77. Tóc không rối, 78. Tóc xoáy, đẹp, 79. Màu tóc như ngọc xanh, 80. Tay chân có đức tướng. Nếu ngài ở đời thì quyết định làm Chuyển Luân Vương cai trị cả thế gian. Song, Ngài giàu lòng từ mẫn, không chịu yên hưởng phú quý. Đến khi lớn không thì chắc Ngài sẽ xuất gia học Đạo, thành vị Phật-đà độ cả chúng sinh ra khỏi thống khổ. Tôi nghĩ phận tôi gắng sức tu hành, cố tìm đạo chánh mà lâu nay chưa rõ, nay hiện có Phật ra đời mà tôi tuổi già, sức đã yếu chắc không sống đến ngày đó để nghe được những lời dạy cao siêu của Ngài, nên tôi tủi mình vô phước chớ không có gì khác".
Ông tâu xong liền từ tạ vua, kính lễ thái tử rồi đi về núi.
Bà Ma-da sanh thái tử được bảy ngày thì thăng hà và thác sanh lên cõi trời Đao-lợi. Vua đặt tên là Sĩ-đạt-ta (Sidhartha) và giao cho dì mẫu Ngài là Ma-ha Ba-xà-ba-đề (Maha Prajapati) nuôi nấng.
Thái tử càng khôn lớn phương phi càng tỏ rõ những nét thông minh và đức độ siêu quần, thấy vậy vua càng thương yêu quý mến, rước các danh sư về văn,về võ để dạy thái tử. Song thái tử thông minh tột bực. Ông thầy nào dạy ít lâu cũng phải
lui thưa không dám dạy nữa. Đến tám tuổi thì văn cũng như võ, các môn học kỹ thuật, kỹ xảo ở đời thái tử đều tinh thông cả.
Thái tử Si-đạt-ta được nuôi nấng, dạy dỗ, giáo dục một cách toàn diện về hai mặt: văn chương và võ nghệ.
Khi Thái tử lên 8 tuổi, những thầy giáo giỏi nhất trong xứ được mời đến hoàng cung dạy cho Thái tử các môn học thế gian như Thanh minh (ngôn ngữ học và văn học), Công xảo minh (Công kỹ nghệ học), Y phương minh (môn học chữa bịnh), Nhân minh (Luận lý học), và Nội minh (Đạo học). Về Đạo học, Thái tử được dạy về 4 sách thánh Veda, là các sách Thánh của Bà-la-môn giáo. Sách kể rằng: Chỉ trong khoảng từ 7 đến 12 tuổi, Thái tử đã học thông thạo 5 môn học trên và 4 sách Thánh Veda. Đến năm 13 tuổi, Thái tử học võ thuật, theo truyền thống dòng dõi đẳng cấp võ tướng (Ksatryas - Sát-đế-lỵ). Nhờ có sức khỏe phi thường Thái tử học môn võ gì cũng giỏi, về môn bắn cung, sách kể rằng, trong một cuộc hội thi, Thái tử đã bắn một mũi tên xuyên qua 7 lớp trống đồng, trong khi người giỏi nhất tại cuộc hội thi chỉ bắn xuyên qua được 3 lớp trống đồng. Vào tuổi 16, Thái tử cưới công chúa Da-du-đà-la (Yasodhara), đồng lứa tuổi với thái tử. Và trong gần 13 năm, sau ngày cưới, Thái tử sống một cuộc đời hạnh
phúc trong nhung lụa, vô tư, không biết gì tới mọi nỗi khổ và bất hạnh ở đời. Về quãng đời ấy của ngài, đức Phật kể lại như sau với các Tỷ-kheo, đệ tử của Ngài:
"Này các Tỷ-kheo, ta được nuôi dưỡng tế nhị, quá mức tế nhị. Trong cung của phụ vương ta, các hồ nước được xây lên, trong một hồ có hoa sen xanh, trong một hồ có hoa sen đỏ, trong một hồ có hoa sen trắng, tất cả đều phục vụ cho Ta. Không một hương chiên đàn nào Ta dùng mà không từ Kasi đến. Bằng vải Kasi là khăn của Ta, bằng vài Kasi là áo cánh, bằng vải Kasi là áo lót, bằng vải Kasi là áo khoác ngoài. Đêm và ngày, một lọng trắng được che trên đầu ta để tránh xúc chạm lạnh, móng, bụi, cỏ hay sương. Này các tỷ-kheo, ba lâu đài được xây dựng cho Ta, một cái cho mùa đông, một cái cho mùa hạ, một cái cho mùa mưa. Và Ta, tại lâu đài mùa mưa, ta được các vũ nhạc công đờn, múa hát xung quang Ta... (Tăng Chi I, 161-162).
Căn cứ vào lời tiên đoán của A-tư-đà và thấy tài năng đức độ của Thái tử, vua biết thế nào Thái tử cũng đi tu, điều mà vua không muốn, nên tìm đủ mọi cách hầu làm phai mờ ý chí cao thượng của thái tử. Nào thiết lập hoa viên, cung điện để thái tử ở theo thời tiết ba mùa, chọn nhiều cung nữ hầu hạ, tìm nơi xứng đáng cưới vợ cho thái tử. Và trong một cuộc tuyển phu, thái tử đã được nàng Da-du-
đà-la (Yasodhara) con vua Thiện Giác (Suprabuddha) chọn làm chồng. Về sau sinh được một cậu con trai tên là La-hầu-la (Rahula). Mặc dù sống trong cảnh tuyệt đỉnh của trần gian với danh vọng, tiền tài, vợ đẹp, con ngoan, đền vàng điện ngọc, đàn ngọt, hát hay, song Ngài vẫn dửng dưng không tìm thấy đời mình trong lối sống tạm bợ đó. Lối sống hợp với tâm hồn Ngài nhất phải là lối sống rạng rỡ trăng sao bao trùm vũ trụ một bậc siêu phàm vượt tục, còn đây chỉ là cảnh giả dối, phĩnh phờ, buông xuôi, chôn vùi những tâm hồn mê muội yếu đuối, phải làm sao thoát khỏi nó, cùng với mọi loài đi tới chỗ an vui.
Một hôm, nhân ngày lễ hạ điền, thái tử theo vua cha ra đồng, xem dân chúng cày cấy, sau lớp xuân sắc tốt tươi, hoa cười chim hót, gió thoảng trời quang, tưởng như nhân sinh an lạc lắm nhưng thái tử đã không hời hợt vô tư, mà nhìn rõ tường tận sâu kín của chúng sinh: Đây bác nông phu đang theo sau con trâu, nhễ nhại mồ hôi phơi mình dưới nắng cháy, để đổi lấy bát cơm nộm cỏ, nọ có đám côn trùng vừa bị lật lên trên luống đất cày, bị chim chóc dành nhau ăn sống và lũ chim chỉ biết say sưa theo con mồi để nuôi sống, không hề để ý cái chết đang chực sẵn bên mình từ mấy chiếc nỏ của những đứa trẻ con. Cảnh tượng này đã giúp cho thái tử nhận rõ thêm sự sống là khổ.
Rồi tiếp những lần khác, Ngài được phép vua cha cho đi dạo ngoài thành, để quan sát dân tình. Lần ra cửa Đông, Ngài gặp một người già, lần ra cửa Nam Ngài gặp một kẻ bịnh, lần ra cửa Tây Ngài gặp một đám chết, đã để lại trong trí Ngài thêm những ấn tượng về sự đau già khổ chết chủa nhân sinh, thúc giục Ngài phải sớm tìm đường giải thoát.
Vì vậy tuy sống giữa cảnh diễm lệ huy hoàng, mặn nồng thương mến, thái tử vẫn thấy cô liêu, tâm trí không lúc nào rỗi mối ưu tư trước những câu hỏi chưa được giải quyết: "Làm sao thoát khỏi cái khổ: sanh, lão, bệnh, tử? Làm sao được tự tại an vui?" Thì bỗng một hôm nhân đi dạo cửa Bắc, thái tử gặp một vị Sa-môn, trong dáng điệu khoang thai nhắm lối Ngài đi tới. Thái tử dừng lại hỏi: "Ngài là ai? Ngài tu theo hạnh gì mà dáng điệu thong dong, phong tư đĩnh đạc?". Vị Sa-môn đáp" mọi sự ràng buộc trần thế, mở rộng tâm tư cầu cho mình được giải thoát và phổ độ chúng sinh đều được giải thoát như mình".
Lời giải đáp của vị Sa-môn lọt tai, như mở rộng con đường trước mặt thái tử mà từ lâu hằng mơ ước. Thái tử nhất quyết bước theo con đường đó. Về cung, thái tử xin vua cha cho đi xuất gia, nhưng vua Tịnh Phạn không cho. Thái tử yêu cầu