Trong cả hai trường hợp, người nhận sự tịnh thí là sở hữu chủ tượng trưng của vật được tịnh thí. Chừng nào vật ấy chưa xả, người ấy vẫn còn là sở hữu chủ tượng trưng. Nếu người ấy qua đời, trong khi vật được tịnh thí chưa xả, cần phải tịnh thí đến một vị khác nữa. Nói tóm lại, mặc dù người có y dư vì nếu chứa thì phạm luật nên phải biếu (cho hay tặng) tượng trưng cho người khác, nhưng trên thực tế thì mình dùng với ý nghĩ là vật mượn tạm.
2. TÁC PHÁP TỊNH THÍ
Về tác pháp, có hai loại, là đối thủ thuyết tịnh, và tâm niệm thuyết tịnh, chung cả hai cách tịnh thí.
i. Đối thủ thuyết tịnh
a) Triển chuyển tịnh thí: Văn tác bạch, (về oai nghi là tiếp theo như pháp tỳ-kheo, ở đây không đề cập chi tiết) người thuyết tịnh bạch:
«Đại đức nhất tâm niệm. Tôi tỳ-kheo… có y dư này chưa tác tịnh. Nay vì tác tịnh nên gởi nơi đại đức để triển chuyển tịnh thí.»
Vị tỳ-kheo nhận sự tịnh thí đáp:
«Trưởng lão nhất tâm niệm. Ngài có y dư này chưa tác tịnh. Nay vì tác tịnh nên gởi nơi tôi. Tôi nay thọ nhận. Vậy ngài muốn tịnh thí đến vị nào?»
Vị thuyết tịnh nói:
«Tôi tịnh thí đến (tên người chủ tiếp nhận sự tịnh thí).»
Vị tỳ-kheo làm trung gian nhận sự tịnh thí nói:
«Trưởng lão, ngài có y dư này chưa tác tịnh, vì tác tịnh nên gởi nơi tôi. Tôi đã thọ nhận. Ngài muốn gởi y này đến (tên người nhận) đã sở hữu. Ngài hãy vì (người chỉ tịnh thí) mà khéo hộ trì, tùy nhân duyên mà dùng.»
b) Chân thật tịnh thí:
Người thuyết tịnh nói:
«Đại đức nhất tâm niệm. Tôi tỳ-kheo… có y dư này chưa tác tịnh. Nay vì tác tịnh nên xả và biếu cho Đại đức, để chân thật tịnh thí. Đại đức đã nhận. Nay tôi vì đại đức mà hộ trì y này, tùy nhân duyên mà dùng.»[28]
ii. Tâm niệm thuyết tịnh
Trong trường hợp không có ai ở gần để tác pháp đối thủ thuyết tịnh, thì có thể tâm niệm thuyết tịnh. Văn bạch:
«Tôi tỳ-kheo… y dư này tịnh thí đến (tên người chủ tịnh thí, trong năm chúng xuất gia đều được cả), tôi sẽ lấy dùng từ vị ấy.»
Thuyết tịnh xong, được phép dùng như thường. Nhưng cứ sau mười ngày lại phải thuyết tịnh một lần. Văn bạch các lần sau:
«Tôi tỳ-kheo… y dư này được lấy về dùng từ (tên người được gửi tịnh thí).»
[28] Đoạn sau này không có ghi trong Tùy cơ yết-ma (Đại 40, tr.502c). Đây thêm vào, căn cứ Luật Nhiếp (Đại 25, tr.553c).
Sau mười ngày nữa, cũng lại phải thuyết tịnh như trước:
«Tôi tỳ-kheo… y dư này đã tác tịnh, được tịnh thí đến… nay lấy để dùng từ vị ấy.»
Như vậy, cứ sau mười ngày, lại thay đổi thuyết tịnh một lần, cho đến khi nào vật tịnh thí được xả