chỉ ngày tháng cho thích hợp. Nếu hết hạn kỳ triển hạn mà Tăng vẫn chưa hòa hiệp, hay các tỳ-kheo khách chưa đi, thì phải y theo luật cưỡng bức các tỳ-kheo hiếu sự hòa hiệp tự tứ, nếu không thể cưỡng bức, các tỳ-kheo thanh tịnh đồng ra khỏi cương giới của trú xứ, kết tiểu giới tự tứ.
3. SAU TỰ TỨ
Theo nguyên tắc, hạn kỳ an cư phải đủ chín tuần. Ngày tự tứ dù là ngày cuối cùng, nhưng vẫn ở trong hạn kỳ an cư do đó phải đợi hết đêm, tức sáng hôm sau khi ánh sáng mai xuất hiện mới được xuất giới. Những tỳ-kheo hậu an cư, cũng tự tứ chung một lần với các tỳ-kheo tiền an cư, nhưng phải đợi đến hết hạn kỳ, tức phải đủ chín tuần, mới được phép rời trú xứ an cư.
Theo Tứ phần hành sự sao[41] tỳ-kheo sau khi hết hạn kỳ an cư phải xuất giới, tức rời khỏi trú xứ an cư. Sở cứ của điều này là luật Tứ phần,[42] dưới điều khoản 96 thuộc ba-dật-đề của ni. Duyên khởi là do tỳ-kheo-ni Sám-ma được các cư sĩ tại thành Xá-vệ thỉnh an cư. Hạn kỳ an cư đã hết ngày tự tứ đã qua, nhưng tỳ-kheo-ni này không chịu rời khỏi trú xứ ấy, các cư sĩ mới than phiền, vì họ không đủ khả năng tiếp tục sự yểm trợ ngoại duyên. Nhân đó, Phật kiết giới nói rằng: nếu tỳ-kheo-ni hạ an cư đã xong không dời đi, phạm ba-dật-đề, tỳ-kheo phạm đột-kiết-la. Nếu có duyên
[41] Hành sự sao thượng 4 (Đại 40, tr.44c).
[42] Tứ phần 26 (Đại 22, tr.746b).