Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Yết - Ma Yếu Chỉ

Yết - Ma Yếu Chỉ

Tác giả: Giảng thuật: Thích Trí Thủ, Biên soạn:Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh, Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng. Dịch giả: Thích Trí Thủ. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 360.

Chương 58: 3. Sau tự tứ (Trang 295 - 298)

chỉ ngày tháng cho thích hợp. Nếu hết hạn kỳ triển hạn mà Tăng vẫn chưa hòa hiệp, hay các tỳ-kheo khách chưa đi, thì phải y theo luật cưỡng bức các tỳ-kheo hiếu sự hòa hiệp tự tứ, nếu không thể cưỡng bức, các tỳ-kheo thanh tịnh đồng ra khỏi cương giới của trú xứ, kết tiểu giới tự tứ.
3. SAU TỰ TỨ 
Theo nguyên tắc, hạn kỳ an cư phải đủ chín tuần. Ngày tự tứ dù là ngày cuối cùng, nhưng vẫn ở trong hạn kỳ an cư do đó phải đợi hết đêm, tức sáng hôm sau khi ánh sáng mai xuất hiện mới được xuất giới. Những tỳ-kheo hậu an cư, cũng tự tứ chung một lần với các tỳ-kheo tiền an cư, nhưng phải đợi đến hết hạn kỳ, tức phải đủ chín tuần, mới được phép rời trú xứ an cư.
Theo Tứ phần hành sự sao[41] tỳ-kheo sau khi hết hạn kỳ an cư phải xuất giới, tức rời khỏi trú xứ an cư. Sở cứ của điều này là luật Tứ phần,[42] dưới điều khoản 96 thuộc ba-dật-đề của ni. Duyên khởi là do tỳ-kheo-ni Sám-ma được các cư sĩ tại thành Xá-vệ thỉnh an cư. Hạn kỳ an cư đã hết ngày tự tứ đã qua, nhưng tỳ-kheo-ni này không chịu rời khỏi trú xứ ấy, các cư sĩ mới than phiền, vì họ không đủ khả năng tiếp tục sự yểm trợ ngoại duyên. Nhân đó, Phật kiết giới nói rằng: nếu tỳ-kheo-ni hạ an cư đã xong không dời đi, phạm ba-dật-đề, tỳ-kheo phạm đột-kiết-la. Nếu có duyên
 

[41] Hành sự sao thượng 4 (Đại 40, tr.44c).
[42] Tứ phần 26 (Đại 22, tr.746b).
 
sự không thể rời ngay được, thì phải xuất giới cách đêm, sau đó có thể trở lại, và ở bao lâu cũng được, tùy theo hoàn cảnh cho phép.
Tứ phần hành sự sao cũng dẫn thêm Tăng nhất A hàm[43] để nhấn mạnh thêm ý nghĩa của điều khoản này. Theo đó, tỳ-kheo thường ở lâu tại một chỗ sẽ có năm điều phi pháp: quyến luyến phòng ốc, vật dụng; say mê, theo tài sản; cố giữ sợ bị đánh cắp mất; tích tụ nhiều tư hữu; giao thiệp quá nhiều với cư sĩ.
Theo tinh thần đoạn kinh được dẫn thì tỳ-kheo không nên sống quá lâu tại một chỗ, nhưng trong các học xứ của giới bổn, không có sự cấm kỵ này. Do vậy, điều khoản ba-dật-đề của ni được nói trong luật Tứ phần 26 chỉ giới hạn trong việc an cư tại nhà cư sĩ thỉnh mời. Sự cúng dường của cư sĩ để hỗ trợ các ngoại duyên thuận tiện cho tỳ-kheo hay tỳ-kheo-ni tu tập, sự hỗ trợ ấy dù sao cũng giới hạn. Do đó, các tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni phải biết giới hạn vừa phải trong sự chu cấp của cư sĩ, đi và ở không thái quá để có thể gây những sự phiền phức cho người tại gia. Nếu an cư tại trú xứ Tăng-già lam, hay trong các hang động, thì việc tỳ-kheo hay tỳ-kheo-ni sau khi hết hạn kỳ an cư phải xuất giới không phải là điều bắt buộc.
Trên đây là một chi tiết nhỏ liên hệ đến cá nhân tỳ-kheo sau khi an cư. Ngoài ra, sau khi hết hạn kỳ an
 

[43] Tăng nhất 33, kinh 8, Đại 2, tr.688c16.
 
 cư, ngày tự tứ đã qua, Tăng có bổn phận sự phải làm:[44]            
a-b. Giải và kết đại giới: là hai phận sự của Tăng sau an cư. Đại giới an cư và trong thường nhật có thể khác nhau hoặc rộng hơn hoặc hẹp hơn. Chẳng hạn, sau khi an cư xong, số lượng tỳ-kheo lưu lại trú xứ quá ít, cần phải thu hẹp đại giới lại cho thích hợp, thì Tăng cần phải yết-ma giải giới, sau đó kết lại đại giới của trú xứ. Qui tắc giải và kết giới đã được nói trong chương II, về cương giới của Tăng. Ngoài ra, cũng có những nguyên nhân khác, các tiêu tướng qui định đường ranh của đại giới do lâu ngày bị mất đi, không thể xác định được, hoặc do nước lụt trong mùa mưa cuốn mất, hoặc cũng có thể bị giặc cướp phá hoại mất đi. Do các nguyên nhân này, các đường ranh của trú xứ già lam cần được ổn định lại cho rõ để các tỳ-kheo trong trú xứ có thể chấp hành.
c. Thọ y ca-thi-na:[45] Đây là phận sự thứ ba, Tăng cần thực hiện, để các tỳ-kheo có đủ thời gian sắm y mà các y cũ đã bị hư rách. Bởi vì trong khi tìm sắm y mới, tỳ-kheo có thể không tìm đủ số lượng vải đủ để may y trong vòng ba mươi ngày. Tỳ-kheo được phép cất giữ vải may y hay y dư, quá ba mươi ngày trong thời hạn có thọ y ca-thi-na. Vả lại, sau mùa an cư, các tỳ-kheo cũng cần đi lại thăm viếng và bái tuế các bậc tôn túc. Nhưng do ảnh hưởng của mùa mưa, đường sá đi lại thường là khó khăn. Như vậy, nếu đi
 

[44] Tỳ-ni- mẫu kinh 6, Đại 24, tr.834b15
[45] Xem chương vii.
 
đâu phải mang đủ ba y thì thật là vất vả. Trong thời hạn thọ y ca-thi-na, điều khoản tỳ-kheo không được phép rời ba y mà ngủ được nới rộng.
d. Phân lợi dưỡng: Phận sự thứ tư của Tăng sau khi an cư là phân chia bình đẳng các lợi dưỡng[46] gồm các nhu cầu vật chất mà các cư sĩ cúng dường suốt trong mùa an cư còn dư lại. Các tỳ-kheo hậu an cư, dù chưa hết hạn kỳ đề xuất giới, cũng được phân chia đồng đều như các tỳ-kheo tiền an cư. Các sa-di cùng an cư tập sự với các tỳ-kheo cũng được phân chia đồng đều như các tỳ-kheo. Các tỳ-kheo phá hạ không như pháp, nghĩa là mất hạ, không được hưởng quyền lợi bình đẳng với các tỳ-kheo khác trong sự phân chia lợi dưỡng này.
Nói tóm lại, một trong các điều kiện cho sự hưng thịnh của Tăng, như đức Thích Tôn đã chỉ giáo, là các tỳ-kheo tự họp và giải tán trong tinh thần hòa hiệp nhất trí. Hòa hiệp nhất trí là sinh mạng của Tăng-già mà sinh mạng của Tăng-già cũng chính là sinh mạng của Phật pháp. An cư và tự tứ là biểu hiện cụ thể và sống động nhất của tinh thần hòa hiệp nhất trí này, do đó, Tăng phải chấp hành như pháp những điều đã được luật qui định.
 

[46] Xem chương viii.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »