TIẾT 2:
GIỚI CỤ TÚC
1. TỔNG LUẬN VỀ GIỚI CỤ TÚC
i. Tính chất của giới cụ túc
Giới cụ túc, tiếng Phạn gọi là upasampāda. Hán cũng dịch là cận viên.[44] Ở Trung quốc, xưa người ta thường giải thích cận viên có nghĩa là «sự gần gũi với Niết-bàn viên tịch,»[45] và cho rằng sở dĩ được gọi như vậy vì loại giới này có khả năng tiến gần đến Niết-bàn viên tịch. Giải thích như thế là do suy diễn từ chữ Hán. Trong tiếng Phạn, nó không có nghĩa gì là viên tịch cả. Chữ viên trong tiếng Hán có nghĩa là viên mãn, do dịch chữ sampāda của tiếng Phạn. Theo nghĩa đen, sampāda có nghĩa là «cùng đến nơi» tức chỉ cho sự thành công, hay thành tựu. Chữ cận trong tiếng Hán là do dịch chữ upa, có nghĩa là gần gũi, hay ở trên. Do thế, upasampāda; theo nghĩa thường dùng nhất, được hiểu là sự thành tựu trọn vẹn, cũng có khi được hiểu là bước lên chỗ cao.
Giới tỳ-kheo sở dĩ được nói là cụ túc, vì nó thể hiện trọn vẹn mẫu mực đời sống của một thánh giả A-la-hán. Trong khi tất cả các loại khác của Thanh văn
[44] Các dịch nghĩa khác: viên cụ 圓具, cụ túc 具足, thọ cụ túc 受 具 hay thọ cụ.
[45] Nam hải ký quy, Đại 54, T54n2125, tr.219c7 : «Ô-ba tam-bát-na 鄔波三缽那 ; ô-ba nghĩa là cận 近; tam-bát-na, là viên 圓, tức là Niết-bàn.»
không được gọi là cụ túc, vì chúng chỉ mô phỏng một phần nhỏ đời sống cao thượng của A-la-hán.[46]
Đời sống cao thượng của A-la-hán gồm có bốn sự thanh tịnh. Đó là sự thanh tịnh về biệt giải thoát luật nghi, sự thanh tịnh về phòng hộ căn môn hay căn luật nghi, sự thanh tịnh về phương tiện sinh sống hay mạng thanh tịnh, và sự thanh tịnh do chánh niệm tỉnh giác. Giới tỳ-kheo được gọi là cụ túc, vì nó thể hiện trọn vẹn tất cả bốn sự thanh tịnh ấy.[47] Trong bốn sự thanh tịnh kể trên, biệt giải thoát luật nghi chỉ cho sự hộ trì nghiêm chỉnh tất cả các học xứ hay điều khoản được quy định bởi giới bổn, thấy nguy hiểm trong những tội lỗi nhỏ nhặt nhất. Ở đây, luật nghi có nghĩa là sự phòng hộ.[48] Đó là khả năng đề kháng những dòng nước lũ ô nhiễm từ bên ngoài ngang qua các hành vi hay nghiệp đạo tràn ngập vào tâm làm
[46] Theo Câu xá 15 (Đại 29, tr.78a) luật nghi của tỳ-kheo được gọi là cụ túc vì nó bao gồm cả 7 chi: thân có 3, và ngữ có 4; trong khi các luật nghi khác không gồm đủ.
[47] Bốn thanh tịnh giới theo Thượng tọa bộ: biệt giải thóat luật nghi, căn luật nghi, mạng thanh tịnh và thực thanh tịnh.
[48] Có ba loại luật nghi: biệt giải thóat luật nghi (Skt. prātimokṣasaṃvara), thuộc dục giới, do thọ mà thành tựu; tĩnh lự luật nghi (dhyānasaṃvara), thuộc sắc giới, cũng gọi là định cọng giới, phát sanh từ thiền định (vô sắc giới không có luật nghi). Và vô lậu luật nghi (anāsravasaṃvara) phát sanh do thấy rõ Thánh đế. Trong ba loại này, biệt giải thóat luật nghi có 8: tỳ-kheo (bhikṣu), tỳ-kheo-ni (bhikṣuni), thức-xoa-ma-na (śikṣmāṇā), sa-di (śrāmaṇera), sa-di-ni (śrāmaṇerikā), cận trụ (upavāsatha), cận sự nam (upāsaka) và cận sự nữ (upāsikā). Xem Câu xá 14 (Đại 29, tr.72b).
cho tâm dơ bẩn.[49] Nó là một danh từ thường dùng để thay thế cho chữ giới.[50] Biệt giải thoát luật nghi như vậy có nghĩa là sự kiểm soát và phòng hộ các hành vi thuộc thân và ngữ bằng biệt giải thoát. Gọi là biệt giải thoát nghĩa đen là giải thoát theo từng đối tượng cá biệt của hành vi; vì khi thọ trì một học xứ do đức Phật chế định, thì học xứ ấy có khả năng loại bỏ một hành vi bất thiện không cho nó len lỏi vào trong tâm
Về căn luật nghi,[51] hay sự phòng hộ căn môn, đó là sự kiểm soát các giác quan, những cánh cửa mà ô nhiễm có thể đi xuyên vào trong tâm. Tức là, khi con mắt tiếp thu đối tượng là sắc, tỳ-kheo luôn kiểm soát sự sinh khởi và hoại diệt của các cảm thọ; phòng hộ cẩn thận không để cho tham ái các thứ thừa cơ xâm nhập. Cho đến ý khi tiếp thu đối tượng của nó là pháp cũng vậy.
Mạng thanh tịnh,[52] hay trong sạch trong sự sống, trong các phương tiện nuôi sống sinh mạng. Tức là sinh sống theo bốn truyền thống của chư Phật, gọi là bốn thánh chủng.[53] Thánh chủng nghĩa là dòng họ
[49] Câu-xá 14, tr.72b: «Vì nó ngăn chặn, tiêu diệt dòng chảy của ác giới, nên được gọi là luật nghi.» (dauḥśalyaprasarasya saṃvaraṇaṃ saṃrodhaḥ saṃvaraḥ)
[50] Câu-xá 14, tr.73a, các tên gọi khác của luật nghi: thi-la 尸羅 (Skt. śīla: giới), diệu hành 妙行 (sucarita), nghiệp 業 (karman), luật nghi 律儀 (saṃvara).
[51] Căn luật nghi 根律儀 (Skt.= Pali: indriya-saṃvara), Câu-xá 14, tr.73c.
[52] Mạng thanh tịnh 命清淨; Pali: ājīva-parisuddhi.
[53] Tứ thánh chủng 四聖種 (Skt. catvāra āryavaṃśāḥ; Pali:
hay dòng dõi cao quý. Dòng họ Bà la môn sinh sống bằng cách tế tự; dòng họ Sát-đế-lỵ sinh sống bằng cách chiến đấu với vũ khí; dòng họ Phệ-xá sinh sống bằng các nghề tự do buốn bán, làm thợ, hay gieo trồng; dòng họ Thủ-đà-la sinh sống bằng cách làm thuê, làm nô lệ; nhưng dòng họ của chư Phật thì không sinh sống theo các hình thức mang tính chất cạnh tranh và áp bức người khác hay bị người khác áp bức. Cho nên, trong dòng họ chư Phật có bốn sự truyền thừa. Đó là, che thân bằng ba y phấn tảo. Nuôi lớn nhục thân bằng một cái bình bát. Ngủ nghỉ thì nương dưới gốc cây, rừng vắng hay trong các hang động. Sống cuộc đời chuyên cần tu tập để đoạn trừ.[54] Nói cách khác, đó là truyền thống sống không gia đình, hoàn toàn không một tư hữu, ngoài ca-sa và bình bát cần thiết như hai cánh chim bay đến và đi bất cứ nơi nào.
Thành tựu chánh niệm chánh tri,[55] hay đời sống thanh tịnh do chánh niệm và tỉnh giác trong bốn cử chỉ đi, đứng, nằm, ngồi. Khi bước tới, biết rõ mình bước tới, bước lui, biết mình đang bước lui… luôn
cattāro ariyavaṃsā, D.iii.224)
[54] Tập dị môn luận 7 (Đại 26, tr.392b29tt): 1. Y phục hỷ túc 衣服喜足 (Pali: itarītara-cīvara-santuṭṭhiyā) ; 2. Ẩm thực hỷ túc 飲食喜足 (itarītara-piṇḍa-pāta-santuṭṭhiyā); 3. Ngọa cụ hỷ túc 臥具喜足 (itarītara-sensana-santuṭṭhiyā); 4. Lạc đoạn lạc tu 樂斷樂修 (bhāvanārāmo... pahānārāmo). Cf. D.iii. 224. Trong giới cụ túc, 4 Thánh chủng được thay bằng 4 y 四依 (Pali: cattaro nissayā); xem đoạn sau.
[55] Pali: sati-sampajaññena samannāgato.
luôn thấy rõ và biết rõ mình đang làm gì. Niệm thanh tịnh cũng được thay thế bằng thọ dụng thanh tịnh; sự thọ dụng trong sạch và như pháp đối với các vật dụng nhu yếu và ẩm thực.
Do học tập bốn sự trong sạch ấy cho đến học tập 3.000 oai nghi, tám vạn tế hạnh nên giới của tỳ-kheo được gọi là cụ túc.
ii. Vấn đề đắc giới
Nói theo hình thức, thì sự đắc giới có nghĩa là người thọ đã hội đủ tư cách để làm tỳ-kheo và hành sự của Tăng hoàn toàn hợp pháp. Nhưng nói theo khía cạnh triết lý của vấn đề thì đắc giới là sự phát khởi của giới thể vô tác hay vô biểu trong thân tâm người thọ. Giới thể vô tác hay vô biểu, cần được hiểu rằng giới thể hay bản chất tồn tại của giới chính là vô biểu. Vô tác hay vô biểu là những thế lực điều động các hoạt động của thân, ngữ và không biểu lộ ra bên ngoài cho người khác có thể thấy.[56] Thế lực đó là khả năng phòng hộ của giới. Nó giống như sự phản xạ có điều kiện của một người học võ do tập luyện lâu ngày, có khả năng phòng vệ sinh mạng của mình trong bất cứ lúc nào và dưới bất cứ trường hợp nào. Luật nghi
[56] Quan điểm của Hữu bộ về vô biểu (Skt. avijñapti; Câu-xá 1, tr.3a): thể tính là sắc pháp, tồn tại như dòng lưu chuyển trong thân, nhưng vì không biểu lộ cho người khác thấy, nên nói là vô biểu. Thành thật luận 7 (Đại 32, tr.290b10): vô tác (=vô biểu) thuộc hành uẩn. Luận (ibid. tr.290a20) định nghĩa: «Pháp gì được gọi là vô tác? Nhân tâm thường sinh tội phước. Nó liên tục phát sinh ngay cả trường hợp bất tỉnh. Vì vậy, gọi nó là vô tác.»
biệt giải thoát là khả năng phòng hộ thân và ngữ không cho đi vào các hoạt động bất thiện, do đó thế lực của giới thể vô tác có ảnh hưởng trực tiếp ngay trên những phản xạ của thân và ngữ.
Giới của tỳ-kheo, tức giới cụ túc, không phải chỉ bao gồm các điều khoản với 227 điều theo truyền thống Pàli hay 250 điều theo tuyền thống của Đàm-vô-đức (tức luật Tứ Phần) mà bao gồm cả bốn sự thanh tịnh như đã nói. Các điều khoản sở dĩ được nêu lên một cách cụ thể với những con số có hạn định như vậy chính là để có một cơ sở hiện thực cho sự hộ trì, và cho có sự hòa hiệp nhất trí giữa đời sống một tỳ-kheo trong cộng đồng Tăng lữ. Cho nên sự đắc giới ở đây không có nghĩa là thành tựu từng điều khoản một trong 227 điều hay 250 điều khi thọ. Do ý nghĩa này, các sớ giải về Luật tạng cũng như của Luận tạng đều có đề ra nhiều trường hợp đắc giới khác nhau.
Theo các nhà giải thích luật của phái Tỳ-bà-sa (Nhất thiết hữu bộ), có 10 trường hợp đắc giới cụ túc.[57]
a. Tự nhiên đắc giới:[58]
Chỉ trường hợp đặc biệt của Phật Chánh giác và Độc giác, do tự mình chứng ngộ mà không có sư truyền.
[57] Xem Câu xá luận 14 (Đại 29, tr.74b) so sánh Tát-bà-đa tỳ-ni tỳ-bà-sa 2 (Đại 23, tr.510b): 7 trường hợp đắc giới: 1. Kiến đế; 2. Thiện lai; 3. Tam ngữ; 4. Tam quy; 5. Tự thệ; 6. Bát pháp; 7. Bạch tứ yết-ma. Tăng kỳ 23, tr.412b26, chỉ đề cập bốn pháp cụ túc: tự thọ, thiện lai, Tăng 10 người, Tăng 5 người.
[58] Kośabhāṣya, tr.212: svayaṃbhūtvena buddhānāṃ pratyeka-buddhānāṃ.
Hay nhập chánh tánh đắc giới, chỉ cho vị chứng bốn Thánh đế, bước vào thánh đạo. Theo ý nghĩa thì một vị đã chứng nghiệm bốn Thánh đế và bắt đầu bước vào thánh đạo là một vị Tu đà-hoàn hay quả Dự lưu. Nhưng một người tại gia cũng có thể chứng đắc quả vị Tu-đà-hoàn mà không bao giờ trở thành tỳ-kheo, nếu vị ấy không xuất gia thọ giới cụ túc. Nếu vị Thánh giả Tu-đà-hoàn là một người tại gia, thì luật nghi của vị ấy là luật nghi cận sự, chỉ thành tựu năm giới, không đương nhiên thành tựu giới cụ túc vốn là sự viên mãn về đời sống cao thượng của A-la-hán. Do đó, trong thực tế, trường hợp thấy Thánh đế mà đắc giới cụ túc chỉ duy nhất xảy ra cho năm vị đệ tử đầu tiên của đức Thích Tôn, tức nhóm tôn giả Kiều Trần Như.[60]
c. Thiện lai tỳ-kheo:[61]
Đắc giới cụ túc do đức Phật gọi: «Đến đây, này tỳ-kheo.»[62] Đây là trường hợp đắc giới trực tiếp do chính đức Phật truyền cho. Nếu không phải do chính Phật trực tiếp truyền thọ thì không thể gọi là đắc giới theo trường hợp thiện lai này được. Người đầu tiên được đức Phật truyền thọ như vậy là tôn giả Da-xá.
[59] ibid., niyāmāvakrāntyāpañcakānāṃ, nhóm năm (tỳ-kheo) do nhập chánh tánh.
[60] Theo Thượng toạ bộ Pali (Mahāvagga I, tr.11), Kiều-trần-như (Aññāta-Koṇḍañña) đắc giới bởi thiện lai tỳ-kheo.
[61] Kośa., ibid., ehibhikṣukayā yaśaḥprabhṛtīnām
[62] Thiện lai, Tỳ-kheo 善來比丘; Pali: ehi bhikkhu.
Tuy nhiên, theo các giải thích khác thì chính nhóm tôn giả Kiều-trần-như mới là những người đầu tiên đắc giới theo cách Phật gọi: «Đến đây, này tỳ-kheo.»[63]
d. Do xác nhận Phật là Đại sư:[64]
Đây chỉ cho trường hợp tôn giả Đại Ca-diếp,[65] khi gặp đức Phật Thích Tôn, liền tuyên bố rằng: «Đây là Đạo sư của tôi.»[66] Bấy giờ liền tự nhiên trở thành tỳ-kheo không qua cách thức truyền thọ nào cả. Đây là trường hợp độc nhất trong các đệ tử của đức Thích Tôn.
Cũng là một trường hợp đặc biệt độc nhất chỉ xảy ra một lần cho Tô-đà-di, khi vừa mới 7 tuổi nhưng đã trả lời câu hỏi của đức Phật một cách khéo léo. Phật hỏi: «Nhà con ở đâu.» Tô-đà-di đáp: «Ba cõi không đâu là nhà.» Do thế, Phật khiến Tăng bạch yết-ma cho thọ cụ túc liền.
f. Do thọ 8 kỉnh pháp:[68]
[63] Xem cht. 56 trên. Mahāvagga I, tr.17, Yasa cũng thọ cụ túc với Phật theo thiện lai tỳ-kheo.
[64] Kośa., ibid., śāstur abhyupagamān mahākaśyapasyeti.
[65] Tát-bà-đa , ibid., Ca-diếp đắc giới theo tự thệ.
[66] Skt.: ayaṃ me śāstā.
[67] Kośa., ibid., praśnārādhanena sodāyinaḥ, do sự hài lòng (của Phật) về câu trả lời. Câu-xá luận ký 14, Đại 41, tr.222b25; Câu-xá luận sớ 14, tr.643c22.
[68] ibid., gurudharmābyupagamena mahāprajāpatyā, Cullavagga x., Aṅguttara, iv.76; Trung A-hàm 28, Đại 1, tr.605c. Xem Chương iv.
Chỉ trường hợp bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề, di mẫu của đức Thích Tôn, chấp thuận 8 phép tôn trọng đối với Tăng mà được xuất gia làm tỳ-kheo-ni.
Trường hợp đặc biệt cho ni Pháp Thọ (cũng dịch là Pháp Dữ). Nàng đẹp nổi tiếng trong xứ. Khi hay tin nàng sẽ xuất gia thọ giới làm tỳ-kheo-ni, nhiều thanh niên tổ chức đón đường bắt cóc, do đó Phật cho phép nàng gởi người đại diện đến giữa Tăng mà thọ, sau đó về truyền lại.
h. Do người thứ năm là người trì luật:[70]
Người trí luật ở đây được giải thích là người thông thạo các nghi thức yết-ma. Đây là trường hợp dành cho những vùng biên cương, nơi không thể tập họp đủ số Tăng gồm 10 người, cho nên chỉ cần 5 tỳ-kheo trong đó ít nhất có một vị thông suốt luật.
i. Thọ với Tăng gồm 10 tỳ-kheo:[71]
Dành cho mọi trường hợp, và bắt buộc đối với những vùng đô thị nơi có khả năng tập họp Tăng đủ số 10 người.
[69] ibid., dūtena dharmadinnāyā. Câu-xá luận ký, ibid.. Tài liệu Pali nói, bà nổi tiếng về sự thuyết pháp bậc nhất trong hàng tỳ-kheo-ni. Nguyên là vợ của nhà phú hộ Visākha ở Rājāgaha (Vương xá). Cf. M. 299ff; Hán:Trung A-hàm 58, tr.788a (Hán dịch ở đây là Pháp Lạc tỳ-kheo-ni).
[70] Kośa., ibid., vinayadharapañcamena.
[72] ibid., traivācikena.
Thọ cụ túc bằng cách chỉ đọc ba lần qui y Phật, Pháp và Tăng. Đây là trường hợp xảy ra thường xuyên trước khi Phật qui định sự thọ giới cụ túc với pháp bạch tứ yết-ma. Tức là khi giáo đoàn phát triển rộng, các Thánh đệ tử đi giáo hóa mọi nơi, gặp người muốn xuất gia, không thể dẫn về để Phật trực tiếp truyền thọ cụ túc, thì họ được phép chỉ đọc ba lần những lời qui y Tam bảo là đắc giới. Nhưng từ khi Phật qui định pháp bạch tứ yết-ma để truyền giới thì cách thọ này không còn được áp dụng cho giới cụ túc nữa.
Trong trường hợp đắc giới dẫn chứng bởi các Luật gia của Hữu bộ trên đây, bảy trường hợp đầu là những trường hợp hy hữu. Tất cả các bộ phái đều chính thức truyền thừa theo ba trường hợp sau, và riêng giới cụ túc thì bắt buộc chỉ áp dụng các trường hợp thứ tám và thứ chín, gọi chung là trường hợp bạch tứ yết-ma.[72] Như vậy, bạch tứ yết-ma là qui tắc tổng quát và cơ bản để thọ cụ túc. Nó được thực hành dưới ba trường hợp khác nhau. Trường hợp thứ nhất, và thứ hai được áp dụng bởi Tăng số năm và mười đã nói.
Trường hợp thứ ba, nó được áp dụng giữa hai bộ Tăng, tức sự tập họp Tăng gồm 10 tỳ-kheo và 10 tỳ-kheo-ni để truyền giới cụ túc cho tỳ-kheo-ni. Trường
[72] Tát-bà-đa tỳ-ni tỳ-bà-sa 2 (Đại 23, tr.510b) đưa ra hai thuyết về thời gian Phật chế bạch tứ yết-ma thọ cụ túc sau ngày thành đạo bốn năm, hoặc 8 năm, và cho rằng thuyết sau có lý hơn.
hợp này sẽ nói chi tiết trong mục truyền thọ cụ túc cho tỳ-kheo-ni đoạn sau, chương IV.
iii. Tư cách người thọ giới
Theo sự ghi chép trong Kinh tạng và Luật tạng, thì nguyên thủy những vị xuất gia liền thọ cụ túc ngay. Vị sa-di đầu tiên của Giáo hội là tôn giả La-hầu-la.[74] Lúc bấy giờ số tỳ-kheo Tăng đệ tử đức Thích Tôn được ghi nhận là trên một nghìn người. Trong tất cả những vị này không một ai đã từng thọ giới sa-di cả. Cho nên, việc thọ sa-di trước khi thọ cụ túc không phải là điều bắt buộc. Tuy vậy, trong sự thực hành của cả hai truyền thống Bắc và Nam tông, cho đến nay, trước khi thọ cụ túc phải thọ sa-di, chứ không có trường hợp từ cư sĩ với năm giới đi thẳng lên cụ túc.[75] Mục đích của sự thực hành này nhắm giải trừ tối đa những trường hợp mà chí nguyện xuất gia không bền vững. Nhưng trong nhiều trường hợp nếu nhận thấy tư cách giới tử đã trọn vẹn và thời gian học tập làm sa-di không cần thiết, thì cho thọ cụ túc ngay. Trong trường hợp này, sự truyền thọ sa-di và
[74] Ngũ phần 17, tr.116c; Tứ phần 34, tr.809c. Các Luật đều không nói tuổi. Tài liệu Hán tạng, Phật bản hành 55, xuất gia lúc 15 tuổi. Mahāvagga I, tr.82, cũng không xác định tuổi. Nhưng theo suy đoán, lúc 7 tuổi. Xuất gia khi Phật về quê lần đầu sau ngày thành đạo một năm.
[75] Tứ phần 35, tr.814c5: «Bấy giờ, có trường hợp không cho giới sa-di mà cho thọ cụ túc ngay; Phật nói: Được thọ cụ túc giới; nhưng Tăng phạm luật.» Ngũ phần 17, tr.119b12: có tỳ-kheo chưa cho thọ sa-di trước mà cho thọ cụ túc ngay... Phật nói, không nên như vậy
cụ túc cho một giới tử tiến hành liên tục trong một lúc.
Về sự nghiệm xét tư cách của người thọ giới, trong nguyên thủy chỉ đặt trọng tâm vào sự tin tưởng Phật pháp và đời sống phạm hạnh. Nhưng sự nghiệm xét này tỏ ra chưa đủ khi mà giáo hội Tăng-già được mở rộng cho mọi thành phần xã hội khác nhau, do đó về sau cần có thêm những nhận xét về hình thức của giới tử nữa. Sự nghiệm xét này được gọi là hỏi về các già nạn, cũng gọi là các pháp chướng ngại.[76] Công việc này được thực hiện bởi Tăng; nó thuộc về giai đoạn chính thức tiến hành tác pháp.
Khi giáo hội càng được mở rộng, thì công việc nghiệm xét tư cách giới tử càng trở nên phức tạp. Do đó, trước khi Tăng chính thức thẩm vấn người thọ. Lại còn đặt thêm một giai đoạn nghiệm xét dự bị nữa. Công việc này do vị Hòa thượng chịu trách nhiệm. Trọng tâm của sự thẩm tra này là nhằm vào nghi biểu của giới tử. Một số trường hợp điển hình được kể trong các Luật bộ, theo đó những người mà sáu căn không đầy đủ, tức mù, què, điếc, câm, ngọng v.v... đều không được chấp nhận.[77] Các điều này vốn
[76] Tứ phần 35, tr.814c11: Phật quy định phải xét nghiệm 13 nạn sự 難事 trước khi cho thọ cụ túc. Cf. Ngũ phần 18, tr.120a 2. Thập tụng 21, tr.165a 26: già đạo pháp 遮道法. Pali, Mahāvagga I. tr.93: hỏi 13 già nạn trước khi cho thọ cụ túc (upasampādentena terasa antarāyike dhamme pucchituṃ). Bản dịch Anh đọc là tassa antarāyike dhamme, do đó không quy định cụ thể con số già nạn là 13. Xem thêm cht. 86.
[77] Ngũ phần 17, tr.119a 29: Tỳ-kheo truyền cụ túc cho người
được triển khai chi tiết từ một trong các già nạn, sẽ được đề cập trong đoạn sau, phần chính thức tiến hành tác pháp. Nói một cách vắn tắt, nguyên tắc mà Phật qui định từ nguyên thủy rằng những người sáu căn không đầy đủ, hoàng môn, lại cái, không được chấp nhận là với lý do rằng những người này không thể có tiến bộ trong Thánh pháp luật, tức sự tàn khuyết của hình hài khiến người ấy không đủ khả năng sống đời sống phạm hạnh cho đến đạt mục đích cuối cùng, tức Niết-bàn ngay trong hiện tại.[78] Thế nhưng khi qui định loại trừ tất cả những người xấu xí, các bộ phái này muốn rằng Tăng chỉ gồm những thành viên có tướng mạo khả quan. Có lẽ trong quá trình phát triển, một số bộ phái đã bị áp lực của thành kiến giai cấp và chủng tộc trong truyền thống Ấn. Trong xã hội của ta, từ xưa đến nay vấn đề giai cấp và nguồn gốc chủng tộc không trở nên thành kiến trầm trọng, nên các qui định chi tiết trong một số luật của các bộ phái hầu như không có thực tế để trắc nghiệm giá trị hiện thực của chúng.
bị chặt tay, chặt chân, đui, què, câm, điếc, gù, mắt lé... nên chúng Tăng bị người đời hủy nhục. Phật nói, không nên độ những người như vậy. Nhưng trong Di-sa-tắc yết-ma bản, phần hỏi các nạn sự (Đại 22, tr.217b), không kể đó là những nạn sự để loại trừ tư cách thọ giới. Cf. Tăng kỳ 23, Đại 22, tr.418b15; Tứ phần 35, tr.814a 18; Thập tụng 21, Đại 23, tr.155b1: Những người tóc vàng, tóc xanh, tóc đỏ... chột mắt... quá trắng, quá đen... mắt lé... thảy đều không chấp nhận thọ cụ túc. Cf. Mahāvagga I, tr.91.
[78] Tứ phần 35, tr.812c: «hoàng môn ở trong Pháp của Ta không thể phát triển lợi ích.»
Theo thông lệ được duy trì cho đến nay ở nước ta, trong giai đoạn nghiệm xét dự bị này còn có cuộc thi. Nguồn gốc của thể lệ này có từ thời nhà Đường bên Trung Hoa. Vì muốn hạn chế bớt người xuất gia, các vua chúa Đường đặt ta cuộc thi tuyển Tăng, phỏng theo tổ chức Thi tuyển nhân tài của triều đình. Những người trúng cách, sẽ được thọ cụ túc, được cấp phát giới đao và độ điệp.[79]
Sự tổ chức như thế là bên ngoài các qui định nguyên thủy của Phật, cũng như của các bộ phái về sau. Như vậy đã bị ảnh hưởng bởi điều kiện chính trị và xã hội. Tuy vậy, ngày nay, để loại bớt số tỳ-kheo thất học, việc khảo hạch để thọ giới vẫn thường xuyên tổ chức, nhưng với sự áp dụng linh động hơn.
Dù qui định và tổ chức theo hình thức nào đi nữa, thì sự tuyển Tăng xứng đáng về phẩm chất, đạo đức cũng như về trình độ hiểu biết Phật pháp vẫn là vấn đề quan trọng. Tổ chức và định chế xã hội càng phức tạp, việc tuyển Tăng càng cần được tiến hành nghiêm túc, để tránh cho Tăng không bị coi là một tập thể ô hợp.
iv. Tư cách của Hòa thượng truyền giới
Hòa-thượng[80] là một thổ âm của các xứ thuộc miền Tây vực Trung quốc, do phát âm trại đi từ
[79] Phật tổ thống kỷ 52 (T49n2035, tr.452c5): Đường Trung tông, niên hiệu Cảnh long thứ nhất (707) xuống chiếu, thiên hạ thí kinh độ tăng... Đường Đại tông (793-780), lệnh cho thi ba khoa Kinh, Luật, Luận, rồi mới cấp điệp cho làm tăng.
[80] Hòa thượng 和尚, các dịch âm khác: ô-ba-đà-da 烏波陀耶,
upādhyāya mà Hán có phiên âm chính xác là Ô-ba-đà-da hay Ưu-ba-đà-da và thường dịch là thân giáo sư nhưng thường gọi là bổn sư. Theo nghĩa đen upādhyāya được hiểu là vị giám hộ, là vị thầy trực tiếp dạy dỗ việc học đạo cũng như hành đạo cho đệ tử. Hòa thượng cho cạo tóc xuất gia và truyền giới sa-di gọi là Hòa thượng thế độ. Hòa thượng truyền giới cụ túc thì gọi là Hòa thượng truyền giới, và Hòa thượng truyền dạy kinh luật gọi là Hòa thượng y chỉ.[81] Thông thường, Hòa thượng thế độ, truyền giới và y chỉ là một, vì có trách nhiệm trực tiếp hướng dẫn học tập các bổn phận của người xuất gia. Trừ trường hợp đặc biệt, như Hòa thượng thế độ hoàn tục hay đã qua đời thì mới được phép thỉnh cầu vị khác làm Hòa thượng truyền giới cụ túc. Hoặc cần học hỏi thêm nhiều Thánh pháp luật mà Hòa thượng thế độ không đủ khả năng hướng dẫn mới thỉnh cầu vị khác làm Hòa thượng y chỉ.
ưu-ba-đệ-da 優波第耶; dịch: cận tụng 近誦, cận đọc 近讀, thân giáo sư 親教師. Skt. upādhyāya; Pali: upajjhāya.
[81] Tân tỳ-kheo, khi Hòa thượng viên tịch, không ai dạy dỗ, Phật quy định y chỉ A-xà-lê; Pali: ācariya, Mahāvagga I, tr.60. Ngũ phần 16, tr.113a7, Phật quy định có năm hạng A-xà-lê: 1. Xuất gia A-xà-lê, tức Hòa thượng cho xuất gia và truyền giới sa-di; 2. Giáo thọ A-xà-lê, tức vị hướng dẫn oai nghi khi thọ cụ túc; 3. Yết-ma A-xà-lê, vị tác yết-ma khi truyền giới tỳ-kheo; 4. Thọ kinh A-xà-lê, thầy truyền dạy kinh điển; 5. Y chỉ A-xà-lê, vị thay Hòa thượng để dạy dỗ khi Hòa thượng viên tịch hay xả đạo.
Những đức tính cần thiết phải có để làm Hòa thượng như đã nói trong đoạn trên, phần nói về tư cách làm Thầy.[82] Theo đó, phải đủ 10 hạ, có phẩm chất đạo đức cao và có trí tuệ, cũng như có khả năng giải quyết những tâm tình khúc mắc cho đệ tử. Và điều quan trọng nữa là phải được Tăng tác pháp yết-ma cho thâu nhận đệ tử và truyền giới sa-di và cụ túc.
Theo qui định của Phật được ghi trong các Luật tạng một vị Hòa thượng không được đồng thời nuôi dạy hai sa-di và trong một năm không được truyền giới cụ túc cho hai người.[83] Bởi vì Hòa thượng truyền giới đồng thời cũng là vị giám hộ, có trách nhiệm thay Tăng giáo dục người mới thọ học tập các bổn phận của một tỳ-kheo và thông suốt tất cả giới luật của tỳ-kheo, tối thiểu trong thời gian 5 năm kể từ ngày thọ giới. Nếu cùng lúc truyền giới cho hai người, thì sẽ không chu toàn trách nhiệm giáo dục ấy.
Đó là nói theo các nguyên tắc mà Luật tạng qui định. Còn trên thực tế thì nước ta từ xưa các nguyên tắc này không được áp dụng hoàn toàn. Bởi vì, lúc bấy giờ việc thọ giới thường được tổ chức theo qui mô rộng rãi cho nhiều người y như một cuộc sát hạch để tuyển chọn nhân tài của thế gian. Do đó việc tổ chức giới đàn không thể thường xuyên, hay bất cứ lúc nào. Thỉnh thoảng vài ba năm hoặc một năm mới có một giới đàn. Một lần tổ chức như vậy là phải thỉnh các cao Tăng từ nhiều địa phương về một chỗ để làm
[82] Ch.3 tiết 1 mục 2. Tư cách làm thầy
[83] Ngũ phần 16, tr.114a 13; 17, tr.115c17.
giới sư, và các giới tử nhiều địa phương khác cũng qui tụ về một chỗ được chọn làm địa điểm tổ chức giới đàn. Sự qui tụ như vậy trong điều kiện giao thông thời trước không phải là đơn giản. Cho nên một giới đàn thường truyền luôn cả giới sa-di, giới cụ túc và Bồ tát, và số giới tử ít khi dưới một trăm người. Trong trường hợp như vậy mà áp dụng đúng theo nguyên tắc luật tạng qui định, một Hòa thượng chỉ được phép truyền cụ túc cho một người (hoặc tối đa là hai người) thì việc tổ chức thành ra phiền phức. Vì lý do đó, tại mỗi giới đàn truyền giới, chỉ thỉnh một vị Hòa thượng truyền giới, gọi là hòa thượng Đường đầu, cùng với hai vị A xà lê và bảy vị tôn chứng.
Kể từ thời trung hưng hiện đại của đạo Phật Việt nam, mặc dù đã có rất nhiều thay đổi quan trọng trong các sinh hoạt của Tăng, nhưng thể lệ tổ chức giới đàn này vẫn còn được duy trì. Hầu như rất ít có trường hợp mà một giới đàn chỉ truyền thọ giới cụ túc cho một người. Đại đa số những người từ các địa phương qui tụ về một chỗ để thọ giới, sau đó ai trở về trú xứ ấy, còn vị Hòa thượng truyền giới sau khi đã truyền giới xong hầu như không biết rõ số giới tử mà mình đã truyền, và không có trách nhiệm giáo dục gì đối với họ cả. Rồi trong những người đã thọ giới trở về địa phương mình, y chỉ theo bổn sư mình thì phần lớn ít ai được học tập tương đối đầy đủ bổn phận của tỳ-kheo, bởi vì ngay cả vị bổn sư ấy có người không thông hiểu luật gì cả, làm sao dạy dỗ? Khiến cho các người thọ
giới đã trên mấy chục năm, nếu kể về hạ lạp thì đã được dự vào hàng Thượng tọa, nhưng không hiểu biết gì về ba-la-đề-mộc-xoa, không hiểu biết gì các yết-ma thông thường như kết giới, truyền giới, an cư, tự tứ v.v… Thảng hoặc những người này tập họp tại một trú xứ, đủ túc số để trở thành Tăng, mà từ Thượng tọa xuống đến hạ tọa không ai biết rõ các phận sự của Tăng cả. Tăng như vậy thì làm sao mà chánh pháp không suy đồi? Đây là sự kiện nghiêm trọng, quan hệ đến toàn bộ sinh mạng của chánh pháp, cho nên những vị trì luật không thể không lưu tâm để chỉnh đốn.
Nói tóm lại, nguyên tắc qui định rằng một Hòa thượng trong một năm chỉ được phép truyền giới cụ túc cho một người, đó là ngăn ngừa sự thiếu sót trong trách nhiệm giáo dục. Ngày nay, như tại các Phật học viện, có ban giám viện, ban giám học, ban giám luật, ban lãnh chúng v.v… thì sự giáo dục tập thể có khả năng chu toàn được. Do đó nguyên tắc nói trên cần được áp dụng một cách linh động.
v. Các điều kiện để yết-ma thành tựu
Tác pháp chính yếu để đắc giới cụ túc là bạch tứ yết-ma. Nhưng trước khi chính thức bạch yết-ma còn có một số thủ tục cần phải được tiến hành một cách hợp pháp thì yết-ma mới thành tựu. Có bốn điều kiện để yết-ma được thành tựu.[84] Đó là, giới thành tựu tức
[84] Thập tụng 21, tr.155b19, Có ba sự hiện tiền để thọ cụ túc: túc số tăng, tư cách người thọ giới, hiện tiền yết-ma như pháp. Tì-ni-mẫu 22 (T24n1463 tr.807a20), 5 điều kiện để yết-ma thọ
điều kiện giới trường; sự thành tựu, giới tử không có các trường hợp trở ngại; Tăng thành tựu, Tăng phải đủ túc số; và yết-ma thành tựu tức bạch yết-ma đúng pháp.
a. Giới thành tựu:
Tất cả mọi hành sự của Tăng đều phải thực hiện trong cương giới đã ấn định, để cho khỏi có sự chia rẽ trong Tăng.[85] Trong việc truyền giới cụ túc, túc số Tăng chỉ cần 10 tỳ-kheo; không phải tập họp tất cả Tăng trong một trú xứ, cho nên tác pháp yết-ma không được tiến hành trong đại giới tức cương giới sống chung của số đông tỳ-kheo. Nơi trú xứ già lam nào đã có giới trường thì Tăng tập họp tại giới trường để tác pháp. Trong trường hợp gặp các trở ngại, hay có thể bị cản trở nếu tác pháp trong giới trường, thì số tỳ-kheo liên hệ truyền giới nên tập họp tại một địa điểm ngoài đại giới. Tại đó, Tăng phải tác pháp kết tiểu giới trước, sau đó mới tiến hành yết-ma truyền giới. Các điều kiện và thủ tục kết cũng như xả tiểu giới thọ giới như đã được nói trong chương II.
Thông thường, tại mỗi trú xứ của Tăng đều có giới trường trong phạm vi đại giới. Giới trường này thường là chánh điện của già-lam. Nhưng việc truyền giới là công việc của Tăng do Tăng chủ trì, nên cần
giới thành tựu: 1. Hòa thượng như pháp; 2. A-xà-lê như pháp, 3. tăng thanh tịnh, 4. yết-ma thành tựu, 5. chúng tăng hòa hiệp.
[85] Ngũ phần 16, tr.111c: Tỳ-kheo tác yết-ma truyền giới trong phạm vi đại giới, phạm tội biệt chúng; tr.112a, Phật cho phép lập đàn thọ giới trong phạm vi Tăng phường.
có sự phân biệt Phật và Tăng ở đây. Tức chỗ ngồi của các giới sư được bố trí như thế nào để có sự cách biệt Phật và Tăng thì Tăng pháp mới thành tựu.
b. Sự thành tựu:
Sự ở đây chỉ các già nạn hay các trở ngại đối với các giới tử. Các già nạn này thường phải được Hòa thượng bổn sư xét nghiệm kỹ trước. Nhưng sự xét nghiệm này chỉ có tính cách dự bị. Nay trong khi tiến hành tác pháp chính thức này, Tăng cần phải hỏi lại đầy đủ để chính thức xác nhận tư cách của người thọ giới. Nếu các già nạn không được hỏi và trả lời minh bạch trước Tăng, thì dù yết-ma có đúng pháp vẫn không thành tựu, và như vậy giới tử không đắc giới, mà giới sư đắc tội.[86]
Luật Tứ phần qui định, trước khi bạch yết-ma cho thọ cụ túc, Tăng phải hỏi 13 già nạn. Tiếng Phạn nói antārayikadharma, dịch là già nạn, cũng dịch là Chướng pháp hay chướng Thánh quả. Vì những điều này trở ngại cho việc chứng đắc các Thánh quả. Một người xuất gia mà thân và tâm không đủ điều kiện để đạt thành mục đích phạm hạnh tức chứng các Thánh quả ngay trong đời này, thì không được phép thọ cụ túc. Nếu do không nghiệm xét kỹ mà cho thọ, nhưng sau đó các chướng pháp này được khám phá, thì người đã thọ cụ túc ấy dù yết-ma có hợp pháp vẫn phải bị tẫn xuất. Bởi vì sự hưng thịnh của Tăng là
[86] Hành sự sao I.3. tr.26c: «Chuẩn theo Luật, nếu không hỏi 13 già nạn, không đắc giới.»
do sự chứng đắc Thánh quả của các tỳ-kheo chứ không do con số đông.
Mười ba[87] già nạn hay chướng pháp được kể chi tiết như sau:
1. Phạm biên tội: tức người đã xuất gia, nhưng phạm một trong bốn trọng cấm.
2. Phá tịnh hạnh của tỳ-kheo-ni: chỉ người trước khi xuất gia đã có lần phá trinh của một tỳ-kheo-ni dù cưỡng hiếp hay được thỏa thuận. Nhưng nếu tỳ-kheo-ni đã chứng quả A-la-hán, dù mất trinh, nghĩa là đã có chồng trước khi xuất gia, mà cưỡng hiếp, thì nhất định phải kể là một chướng pháp.
3. Tặc trú:[88] nghĩa đen là hạng người ăn cắp chánh pháp. Đây chỉ cho những người vì lợi dưỡng, tự mình cạo tóc, núp lén trong chúng xuất gia để thụ hưởng. Nếu họ chưa hề tham dự các yết-ma thuyết
[87] Có hai nhóm già nạn. Nhóm I, 13 già nạn gồm những ác sự. Nhóm II, 10 già nạn, liên hệ bản thân, gia đình và xã hội của người thọ giới. Ngũ phần 17, tr.119c, chỉ liệt kê nhóm II. Nhưng Di-sa-tắc Yết-ma bản, tr.317b, hỏi đủ cả hai nhóm. Luật Pali (Mahāvagga I, tr.93) cũng chỉ liệt kê nhóm II gồm 11 điều: 1. Các chứng bịnh nan y (ābādhā), 2. Loài người (manusa), 3. Đàn ông (purisa), 4. Không phải nô lệ (bhujissa), 5. Không mắc nợ (anaṇa), 6. Cấm quân (rājabhaṭa), 7. Cha mẹ cho phép (anuññāta-mātāpitūhi), 8. Tuổi đủ 20 (paripuṇṇa-vīsati-vassa), 9. Y bát đủ (paripuṇṇa-patta-cīvara), 10. Tên của người thọ (nāma), 11. Tên của Hòa thượng (nāma-upajjhāyassa). Nhóm I của Pali (Mahāvagga I, tr.88-9) cũng gần với Tứ phần.
[88] Tặc trú 賊住. Pali: theyyasaṃvāsaka (Mahāvagga I, tr.86)
giới cụ túc, tự tứ v.v… thì không kể, nhưng trái lại thì bị liệt vào hạng chướng pháp. Cho đến những người dù đã xuất gia hợp pháp đã thọ giới sa-di mà lén nghe Tăng yết-ma thuyết giới cụ túc, nếu nghe mà không nhớ và không hiểu, thì không kể, trái lại hiểu rõ nội dung và ghi nhớ đầy đủ, thì bị gọi là phạm chướng pháp.
4. Phá nội ngoại đạo: Người ngoại đạo xuất gia thọ cụ túc một thời gian lại chán, tự động trở về đạo cũ, sau đó lại đến xuất gia nữa. Người như vậy, vừa phá hủy đạo cũ của mình mà cũng phá hủy đạo Phật, tâm tình bất định, lui tới không chừng như vậy, được liệt vào hạng phạm chướng pháp.
5. Giết cha.
6. Giết mẹ.
7. Giết A-la-hán.
8. Phá hòa hợp Tăng: Có hai trường hợp. Thứ nhất, phá pháp luân Tăng: tự xưng mình là Phật, đặt ra những luật lệ khác với Phật đã chế định, lôi cuốn một số tỳ-kheo đi theo lập thành Tăng đoàn riêng biệt. Thứ hai, phá yết-ma Tăng: Tăng trong cùng một trú xứ, mà xúi dục, kích động, với bất cứ phương tiện nào, khiến cho chia rẽ thành hai nhóm trở lên, không chịu thuyết giới chung, và tự tứ chung. Trong hai trường hợp trên, Tổ Đạo Tuyên cho rằng chỉ tội phá pháp luân Tăng mới thành chướng pháp.
9. Với ác ý gây thương tích thân Phật: nay là thời không có Phật tại thế nên trường hợp này không xảy ra.
Trên đây, các điều 5, 6, 7, 8, và 9 được gọi là năm tội đại nghịch.
10. Bất năng nam: Tức đàn ông bất lực, cũng gọi là một hoàng môn.[89] Có 5 loại: (1) Sanh hoàng môn, tức là sanh ra không có cả nam căn và nữ căn; (2). Kiền hoàng môn: bị thiến như thái giám hay hoạn quan các thứ; (3). Đổ hoàng môn: thấy kẻ khác hành dâm nổi máu ghen, nam căn bị biến đổi; (4). Biến hoàng môn: với dâm tâm thúc đẩy muốn hành dâm nhưng khi giao hợp thì nam căn biến đổi; (5). Bán nguyệt hoàng môn: trong một tháng có 15 ngày nam căn bị biến đổi, trở thành bất lực.
11. Phi nhân: nghĩa đen là không phải là người. Mặc dù nghĩa đen như vậy, nhưng từ nay áp dụng cho các loài ma quỉ như a-tu-la, và một số thần linh như dạ-xoa, càn-thát-bà, các loại này về năng lực trí tuệ có thể bằng được loài người nhưng hiện thân không thể chứng đắc Niết-bàn nếu không tái sinh làm người.
12. Súc sinh: Theo tín ngưỡng phổ thông của Ấn thời xưa, một số loài súc sinh, như loài rồng hay rắn thần có thể hóa hiện ra hình người nhưng chúng không thể chứng đắc Niết-bàn trong hiện tại trừ khi tái sinh làm người. Ở những nơi không có tín ngưỡng như vậy, mà giới tử bỗng nhiên được hỏi: «Ngươi có phải súc sanh không?» thì không thể không ngạc nhiên.
[89] Tứ phần 35, tr.812c3: «Phật nói, hoàng môn ở trong pháp của Ta không phát triển được ích lợi gì, nên không cho xuất gia thọ cụ túc. Nếu đã cho thọ, cần phải diệt tẫn.» Cf. Pali, paṇḍaka, Mahāvagga I tr.85.
Do đó cần giải thích cho rõ trước khi hỏi. Vả lại, hai câu hỏi 11, 12 này cũng có ích về một mặt tức nó xác nhận tư cách giới tử với vinh dự là đã được sinh làm người.
13. Nhị hình: Tức một thứ lại cái hay bán nam bán nữ, vừa có nam căn vừa có nữ căn.
Ngoài ra còn có thêm 10 câu hỏi nữa mà giới tử phải trả lời. Chúng không phải là những chướng pháp vĩnh viễn chướng ngại sự chứng đắc Niết-bàn trong hiện tại. Nhưng đó là những ràng buộc từ bản thân, từ gia đình và xã hội, mà giới tử cần phải giải quyết cho xong trước khi thọ cụ túc để có thể gọi là «rũ sạch nợ đời» mà học đạo. Nội dung những câu hỏi này rất rõ ràng nên không cần giải thích chi tiết ở đây, mà sẽ được kể ra trong phần chính thức tiến hành tác pháp.
c. Tăng thành tựu:
Túc số Tăng để tác pháp yết-ma truyền giới cụ túc là 10 tỳ-kheo thanh tịnh, còn đủ tư cách, không phạm các điều khỏan trong giới bổn, hoặc có phạm nhưng đã sám hối, trừ tội ba-la-di. Ở biên địa thì số Tăng là 5 tỳ-kheo thanh tịnh, trong đó có 1 tỳ-kheo biết tác pháp yết-ma. Các tỳ-kheo được kể túc số này phải tập hợp lại một chỗ trong cương giới được ấn định. Luật Ma-ha Tăng-kỳ còn nói rõ các tỳ-kheo nếu ngồi cách xa nhau mà vói tay không đến nhau thì yết-ma không thành.[90] Nói cụ thể, khi tập họp, các tỳ-kheo
[90] Tăng kỳ 23 (Đại 22, tr.416b): bán phu bán lộ địa, thân thủ
không được cách nhau quá xa, và cũng không được khuất mặt nhau. Thậm chí, giả sử có người có thần thông cũng không được bay khỏi mặt đất.
Trong túc số Tăng, chỉ có một Hòa thượng cũng như một vị yết-ma. Có nhiều hơn thì yết-ma cũng bất thành.
d. Yết-ma thành tựu:
Những qui định về yết-ma hợp pháp đã được nói trong chương I, ở đây không nhắc lại nữa. Điều cần nói thêm là, khi tác pháp yết-ma mà có một tỳ-kheo nào trong túc số Tăng phủ quyết, tức nói lên sự không đồng ý của mình, thì yết-ma bất thành. Hoặc giới tử cũng có quyền phủ quyết yết-ma, mặc dù không được kể trong túc số Tăng. Thí dụ, giới tử trong lúc Tăng đang tiến hành tác pháp yết-ma, đột nhiên hối hận, tuyên bố mình không muốn thọ giới nữa, thì yết-ma đương nhiên bất thành phải hủy bỏ.
Đối tượng của yết-ma là giới tử. Mỗi lần tác pháp chỉ được phép với một giới tử mà thôi. Trong trường hợp đặc biệt có thể hai hoặc ba giới tử. Nhưng 4 giới tử trở lên đã thành số Tăng nên không thể là đối tượng của tác pháp, yết-ma bất thành.
vi. Tiến hành tác pháp
Trong các nghi truyền thọ giới ở nước ta, ngoài phần tác pháp căn bản theo sự truyền thừa của luật tạng, chủ yếu là luật Tứ phần, các tổ xưa còn kết hợp thêm
bất tương cập 半覆半路地伸手不相及.
vào nghi thức tế tự của người Trung quốc nữa. Do đó trong giới đàn, ngoài 10 giới sư ra, còn một số tỳ-kheo trợ lễ. Thông thường, ít nhất là thêm một vị điển lễ, cũng gọi là vị dẫn thỉnh, phụ trách xướng hiệu các tiết mục, để Tăng và giới tử hành sự, tiến thối, có qui củ nhịp nhàng, trang nghiêm và nghi vệ. Nếu là giới đàn lớn thì có bốn tỳ-kheo khác làm giám đàn, cầm nghi trượng ngồi hai bên trước Tăng. Đây là những nghi tiết phỏng theo tập tục cổ truyền của nước ta và Trung Quốc. Xét ra không phải là những điều bắt buộc phải có, cho nên ở đây không đề cập.
Các tỳ-kheo trợ lễ này không thuộc túc số Tăng, nhưng thảy đều ở trong phạm vi giới trường cả. Theo luật chế, khi các tỳ-kheo cùng hiện diện trong một cương giới mà làm yết-ma, thì tất cả hòa hợp. Nay trong trường hợp thọ giới, túc số Tăng để yết-ma chỉ gồm 10 tỳ-kheo, nhưng số tỳ-kheo hiện diện trong giới trường lại nhiều hơn, khiến cho trong cùng một cương giới mà có hai nhóm Tăng, và tác pháp yết-ma thành ra biệt chúng là phi pháp. Vì vậy điều này cần lưu ý để cho tác pháp được thành tựu và Tăng không mắc tội đột-kiết- la.
Thông lệ giới đàn ở nước ta từ xưa không thể thiếu các vị dẫn thỉnh và giám đàn, do đó sự sắp đặt vị trí của họ cần phải được hợp lý. Hoặc họ ngồi ngoài phạm vi giới trường, để khi Tăng tác pháp yết-ma khỏi mắc tội biệt chúng. Nhưng nói túc số Tăng mười vị tỳ-kheo là tối thiểu, mà số tỳ-kheo nhiều hơn cũng vẫn không trái luật. Như vậy vị trí của họ
có thể ở trong giới trường, và khi Tăng yết-ma các vị này phải ngồi yên một chỗ, phát tâm tùy hỉ, không được đứng hay qua lại.
Trên đây là xét theo lý mà áp dụng linh động để cho nghi thức truyền thọ được long trọng thêm. Chứ theo đúng luật chế thì những việc dẫn giới tử tiến hay thối đều do vị giáo thọ mà Tăng đã cử ra.
Dưới đây chỉ nói đến các tiết mục tiến hành tác pháp theo luật chế, áp dụng cho tất cả mọi trường hợp truyền thọ giới cụ túc. Những chi tiết thêm thắt khác cho trang nghiêm hơn sẽ được nói đầy đủ trong một tập sách khác.
a. Thỉnh giới sư
Nếu có điển lễ, thì giới tử nói theo sự hướng dẫn của thầy điển lễ. Nếu không có, giới tử phải học thuộc các thỉnh để tự mình nói lấy.
1) Thỉnh Hòa thượng
Thầy điển lễ xướng:
- Các giới tử hướng về hòa thượng lạy một lạy.
Giới tử lạy xong, xướng tiếp:
- Hồ quì hiệp chưởng.
Giới tử quì xuống, điển lễ xướng:
- Các giới tử, tôi nay hướng dẫn các vị thỉnh giới sư. Theo phép thỉnh giới sư các vị phải tự nói, nhưng vì các vị chưa biết rõ cách nói, nay tôi hướng dẫn các vị nói theo.
Đại đức nhất tâm niệm, con pháp danh là…. Nay thỉnh Đại đức làm Hòa thượng, cúi xin đại đức vì con làm Hòa thượng. Con nương theo đại đức mà được thọ giới cụ túc. Từ mẫn cố. (nói ba lần)
Hòa thượng đáp:
Lành thay, vậy các ngươi hãy chí thành thanh tịnh, chớ có buông lung.
Giới tử nói:
Y giáo phụng hành.
2) Thỉnh yết-ma a-xà-lê
Giới tử nói theo thầy điển lễ, hoặc tự nói. Văn thỉnh trên chỉ đổi các tiếng «Hòa thượng» thành ra «Yết-ma a-xà-lê.»
3) Thỉnh Giáo thọ a-xà-lê
Cũng như trên, nhưng đổi các tiếng «Hòa thượng v.v…» thành ra là «Giáo thọ a-xà- lê.»
Về việc thỉnh các tôn chứng, trong luật không có ghi. Nhưng sự thỉnh cầu này nếu có càng tốt. Văn thỉnh, với một ít thay đổi, cũng như các trường hợp trên.
Sau phần thỉnh giới sư, các giới tử lui ra khỏi giới trường.
b. Yết-ma truyền giới cụ túc
Thầy tỳ-kheo yết-ma xướng, và một trong các vị tôn chứng đáp. Về điều này, có sách ghi là thầy yết-ma xướng hỏi, thầy điển lễ đáp. Nhưng nếu thầy điển lễ không được kể trong túc số Tăng, thì khi Tăng yết-
ma sai giáo thọ, vị ấy phải ra ngoài giới trường. Chỉ trừ khi được kể trong túc số Tăng, thầy điển lễ mới có đủ tư cách để trả lời. Đây là điểm tế nhị cần lưu ý để tác pháp được thành tựu.
Thầy yết-ma xướng:
- Tăng đã họp chưa?
- Tăng đã họp.
- Hòa hiệp không?
- Hòa hiệp.
- Người chưa thọ cụ túc đã ra chưa?
- Đã ra.
- Tăng nay hòa hiệp để làm gì?
- Yết-ma truyền giới cụ túc.
Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Có các sa-di (pháp danh) xin cầu thọ cụ túc với Hòa thượng (pháp hiệu) nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận tỳ-kheo… làm giáo thọ. Đây là lời tác bạch.
c. Giáo thọ giới tử
Thầy giáo thọ dẫn giới tử đến chỗ khuất giới trường mà Tăng đang tập họp. Việc làm này không thuộc phận sự của Tăng. Thầy giáo thọ cần dạy trước giới tử những điều phải trả lời trước Tăng cho thông thuộc, để khi đến trước Tăng, giới tử không bối rối hay sợ sệt mà nói năng không thông suốt, không rõ ràng, khiến Tăng không nghe đầy đủ, và như thế, yết-ma sẽ không trọn vẹn. Vì là việc làm không
thuộc Tăng, nên không được hỏi trước Tăng, tức trong phạm vi của giới trường.
Thầy giáo thọ ngồi; giới tử đảnh lễ 1 lạy, quì xuống nghe giáo thọ nói.
Giới tử dâng ba y, bình bát và tọa cụ cho giáo thọ. Giáo thọ đưa ra từng cái và hỏi:
- Đây là an-đà-hội, đây là uất-đa-la-tăng, đây là tăng-già-lê, đây là bình bát, đây là tọa cụ. Ba y, bình bát và tọa cụ này có phải là của ngươi không?
Giới tử đáp:
- Bạch, phải.
Giáo thọ nói:
- Này (nói pháp danh giới tử), hãy lắng nghe. Lát nữa ta sẽ dẫn ngươi lên bậc cao tột. Đây là thời gian chí thành. Đây là thời gian nói sự thật. Những điều ta sắp hỏi ngươi ở đây, lát nữa ngươi cũng phải trả lời trước Tăng như vậy. Điều gì có thật, hãy trả lời là có thật. Điều gì không có thật, hãy trả lời là không có thật. Đừng khiếp sợ. Đừng bối rối. Lát nữa Tăng sẽ hỏi ngươi như sau:
- Ngươi có phạm biên tội không?
Giới tử đáp:
- Bạch, không.
Giáo thọ hỏi tiếp:
- Ngươi có phá tịnh hạnh của tỳ-kheo-ni không?
- Bạch, không.
- Ngươi có phải là tặc trú không?
- Bạch, không.
- Ngươi có phải là kẻ phá nội ngoại đạo không?
- Bạch, không.
- Ngươi có giết cha không?
- Bạch, không.
- Ngươi có giết mẹ không?
- Bạch, không.
- Ngươi có giết A-la-hán không?
- Bạch, không.
- Ngươi có phá hòa hiệp Tăng không?
- Bạch. Không.
- Ngươi có gây thương tích Phật với ác ý không?
- Bạch, không.
- Ngươi có phải là bất năng nam không?
- Bạch, không.
- Ngươi có phải là phi nhân không?
- Bạch, không.
- Ngươi có phải là súc sinh không?
- Bạch, không.
- Ngươi có phải là nhị hình không?
- Bạch, không.
- Ngươi có phải là quan viên tại chức không?
- Bạch, không.
- Ngươi có phải là người trốn nợ không?
- Bạch, không.
- Ngươi có phải là đầy tớ trốn chủ không?
- Bạch, không.
- Ngươi có phải là đàn ông không?
- Bạch, phải.
- Là đàn ông mà có bệnh sau đây, cùi, hủi, ung thư, ghẻ mủ, động kinh, lao phổi. Ngươi có mắc các bệnh ấy không?
- Bạch, không.
- Tuổi đủ hai mươi chưa?
- Bạch, dạ đủ.
- Y bát có đủ không?
- Bạch, có đủ.
- Cha mẹ đã cho phép chưa?
- Bạch, đã cho.
- Pháp danh ngươi là gì?
- Con pháp danh là…
- Hòa thượng của ngươi hiệu thượng… hạ…
Hỏi và đáp đầy đủ. Những điều cần giải thích, giáo thọ nên giải thích. Rồi giáo thọ nói tiếp với giới tử:
Những điều ta vừa hỏi ngươi, lát nữa Tăng cũng sẽ hỏi như vậy, và ngươi cũng phải như vậy mà trả lời.
d. Bạch Tăng dẫn giới tử vào
Sau đó, giáo thọ dẫn giới tử trở lại giới trường đứng chờ bên ngoài. Giáo thọ đến trước Tăng và bạch:
Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Sa-di… cầu thọ cụ túc với Hòa thượng… tôi đã giáo thọ xong. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận, tôi sẽ gọi sa-di… vào.
Thầy yết-ma nói:
Nếu thanh tịnh hãy cho vào.(Giáo thọ dẫn giới tử vào.)
e. Giới tử bạch Tăng xin giới
Giới tử vào trước Tăng, lạy ba lạy, y bát để trước mặt, hoặc giáo thọ giữ hộ. Giáo thọ hướng dẫn giới tử bạch Tăng, hoặc giới tử tự nói lấy nếu biết cách.
Bạch Đại đức Tăng, con sa-di… cầu thọ cụ túc với Hòa thượng… con nay cầu xin Tăng được thọ cụ túc với Hòa thượng… cúi mong Tăng rũ lòng thương tưởng đưa con lên bực cao. (nói ba lần)
f. Yết-ma hỏi các chướng pháp
Thầy yết-ma xướng:
Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Sa-di…. này cầu thọ cụ túc với Hòa thượng… Sa-di này nay cầu xin Tăng được thọ cụ túc với Hòa thượng… Nếu thời gian thích hợp đối với
Tăng, Tăng chấp thuận, tôi hỏi các chướng pháp.
Giới tử dâng y bát của mình lên cho thầy yết-ma xem. Thầy yết-ma xem xong, hỏi:
Đây là an-đà-hội, đây là uất-đa-la-tăng, đây là tăng-già-lê, đây là bình bát, đây là tọa cũ, ba y, bình bát và tọa cụ này có phải là của ngươi không?
Giới tử đáp:
Bạch, phải.
Thầy yết-ma nói:
Này (pháp danh giới tử), hãy lắng nghe đây. Đây là thời gian chí thành. Đây là thời gian nói sự thật. Những điều ta sắp hỏi ngươi sau đây, điều nào có thật, hãy trả lời là có thật; điều nào không có thật, hãy trả lời là không có thật.
Ngươi có phạm biên tội không?
Giới tử đáp: Bạch, không.
Hỏi và đáp đủ như trong phần giáo thọ trên, cho đến:
Hòa thượng của ngươi hiệu là gì?
Hòa thượng của con hiệu là…
g. Bạch tứ yết-ma truyền cụ túc
Sau phần Tăng chính thức hỏi các chướng pháp, hòa thượng nói lời khai đạo, khích lệ giới tử về sự thọ giới và trì giới để hướng tâm lên bực cao thượng; nói
về uy lực của bạch tứ yết-ma để giới thể vô tác được thành tựu. Tiếp theo, thầy yết-ma bạch Tăng:
Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Sa-di… này cầu thọ cụ túc với Hòa thượng… Sa-di này nay cầu xin Tăng được thọ cụ túc với Hòa thượng… Sa-di này đã tự nói là thanh tịnh, không có các chướng pháp, tuổi đủ hai mươi, ba y và bình bát, tọa cụ đã đầy đủ. Nếu thời gian thích hợp với Tăng, Tăng chấp thuận cho thọ cụ túc với Hòa thượng. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Sa-di… này cầu thọ cụ túc với Hòa thượng… Sa-di này cầu xin Tăng được thọ cụ túc với Hòa thượng… Sa-di này đã tự nói là thanh tịnh, không có các chướng pháp, tuổi đủ hai mươi, ba y và bình bát tọa cụ đầy đủ. Tăng nay chấp thuận cho sa-di… thọ cụ túc với Hòa thượng… Các trưởng lão nào chấp thuận, Tăng cho sa-di… thọ cụ túc với Hòa thượng… thì im lặng. Ai không chấp thuận hãy nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất.
Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Sa-di… này cầu thọ cụ túc với Hòa thượng… (như trên, cho đến) Ai không chấp thuận hãy nói. Đây là yết-ma lần thứ hai.
Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Sa-di này… (như trên) Đây là yết-ma lần Thứ ba.
Tăng đã chấp thuận cho sa-di… thọ cụ túc với Hòa thượng… vì im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.
Đến đây, sau khi tất cả tiết mục đều được tiến hành đúng pháp, yết-ma thành tựu, giới tử từ giờ phút này được kể là tỳ-kheo. Giới sư nói ít lời nhắc nhở vị tân tỳ-kheo về cách tính ngày tháng, và tuổi theo hạ lạp. Lịch pháp xưa ở Ấn độ không được phổ biến quần chúng, cho nên tân tỳ-kheo được chỉ dạy chi tiết để có thể biết ngày nào Tăng thuyết giới, ngày nào kết hạ an cư, ngày nào tự tứ, theo tháng thiếu và tháng đủ, năm bình thường và năm nhuận như thế nào. Ngày nay lịch pháp được phổ biến rộng rãi, do đó việc chỉ cách tính tháng, tính mùa và tính năm không cần thiết. Giới sư chỉ cần nhắc tân tỳ-kheo rằng ngày này, tháng này, năm này, giờ này mình đắc giới cụ túc, như người đời ghi nhớ kỹ ngày tháng và năm sinh vậy. Nhưng giới sư phải chỉ cho tân tỳ-kheo biết cách tính tuổi hạ lạp. Kể từ giờ phút đắc giới cụ túc này cho đến trước ngày tự tứ lần đầu tiên, nếu có ai hỏi tuổi thì phải trả lời mình chưa được tuổi nào. Sau đó, cứ theo ngày tự tứ mỗi năm mà tính thôi.
Giới tử thọ cụ túc đã thành tựu, nghi thức thọ giới đã hoàn tất. Tuy nhiên, Hòa thượng hay giới sư lại cần giảng cho tân tỳ-kheo biết về tứ y và tứ khí, để biết mà chấp hành và học tập. Theo các truyền thống khác, pháp tứ y được nói trước, kế đó mới nói pháp tứ khí. Nhưng theo truyền thống luật Tứ phần thì tứ khí được nói trước. Nước ta hành trì theo luật Tứ phần do đó dưới đây cũng sẽ nói về tứ khí trước.
h. Truyền pháp tứ khí
Tiếng Phạn nói Pārajika. Hán âm là ba-la-di hoặc ba-la-thị-ca, dịch là đọa, khí, hoặc tha thắng. Tứ khí tức bốn ba-la-di hay bốn trọng cấm. Nếu tý kheo phạm một trong bốn trọng cấm này, không còn tư cách là tỳ-kheo nữa, không được sống chung với các tý kheo khác, nghĩa là bị khai trừ ra khỏi giáo đoàn Tăng lữ.
Hòa thượng hay giới sư nói:
Này tân tỳ-kheo, đức Như Lai, bậc Chí chân, Đẳng chánh giác, đã nói bốn pháp ba-la-di. Nếu tỳ-kheo phạm một trong bốn pháp này, người đó không còn là sa môn, không còn là Thích tử nữa.
- Thứ nhất, tỳ-kheo đã đắc giới cụ túc, không được hành pháp dâm dục, bất tịnh hạnh, cho đến cùng với loài vật. Tỳ-kheo nào hành pháp dâm dục, bất tịnh hạnh, người đó không còn là sa môn, không phải là Thích Tử nữa. Đức Thế tôn đã nói thí dụ rằng: Cũng như một người bị chặt đầu thì không thể sống được nữa. Cũng vậy, tỳ-kheo nếu phạm pháp ba-la-di này, phẩm chất tỳ-kheo không thể phục hồi được nữa.
- Thứ hai, tỳ-kheo đã đắc giới cụ túc, không được cố ý lấy vật không cho, nhẫn đến một cọng cỏ. Nếu tỳ-kheo lấy trộm năm tiền hay vật tương đương năm tiền trở lên, tự mình lấy hoặc bảo người khác lấy, tự mình phá hoặc bảo người khác phá, tự mình chặt hoặc bảo
người khác chặt, hoặc đốt, hoặc chôn, hoặc hủy hoại mất màu sắc, người ấy không còn là sa môn, không phải là Thích tử nữa. Cũng như cây đa-la bị cắt đứt lõi, không thể sinh trưởng được nữa. Cũng vậy, tỳ-kheo phạm pháp ba-la-di này, phẩm chất tỳ-kheo không thể phục hồi được nữa.
- Thứ ba, tỳ-kheo đã đắc giới cụ túc không được cố ý giết hại mạng sống, nhẫn đến con kiến. Tỳ-kheo nào cố ý giết người, tự tay mình cầm dao giết, hay đưa người khác giết, hoặc xúi dục người tự sát, ca ngợi để người tự sát, đưa thuốc độc cho người, làm trụy thai, hoặc bằng chú thuật mà giết, hoặc tự mình đặt phương tiện giết hay bảo người khác giết; người ấy không còn là sa môn, không phải là Thích tử nữa. Như cây kim đã sút lỗ không còn dùng được nữa. Cũng vậy, tỳ-kheo đã phạm pháp ba-la-di này rồi, phẩm chất tỳ-kheo không thể phục hồi được nữa.
- Thứ tư, tỳ-kheo đã đắc giới cụ túc không được cố ý nói dối, nhẫn đến nói dối mà chơi. Nếu tỳ-kheo tự mình không thật sự chứng đắc mà nói rằng: «Tôi đã chứng đắc pháp thượng nhơn, đắc thiền, đắc giải thoát, đắc định, đắc bốn không định, đắc quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, trời, rồng, quỷ, thần đến cúng dường tôi; như vậy người ấy không còn là sa môn, không phải là Thích tử nữa; như tảng đá lớn bị vỡ làm hai không còn
dính lại được nữa. cũng vậy, tỳ-kheo phạm ba-la-di này rồi, phẩm chất tỳ-kheo không thể phục hồi được nữa.
i. Truyền pháp tứ y
Tứ y tức bốn chỗ nương tựa, là bốn căn bản cho đời sống của tỳ-kheo; như đã đề cập đoạn trên.
Hòa thượng hay giới sư nói:
Này tân tỳ-kheo, đức Như Lai, bậc Chí chân, Đẳng chánh giác, đã nói bốn pháp sở y. Tỳ-kheo y theo đây mà xuất gia, thọ giới cụ túc, thành phẩm chất tỳ-kheo.
- Thứ nhất, tỳ-kheo sống y trên y phấn tảo; y trên đây mà xuất gia, mà thọ cụ túc, thành phẩm chất tỳ-kheo. Ngươi phải trọn đời thọ trì điều này. Trường hợp đặc biệt được phép thọ dụng y do đàn việt cúng dường, y đã được cắt rọc hay hủy hoại (màu sắc).
- Thứ hai, tỳ-kheo sống y trên sự khất thực; y trên đây mà xuất gia, mà thọ giới cụ túc, thành phẩm chất tỳ-kheo. Ngươi phải trọn đời thọ trì điều này. Trường hợp đặc biệt được thọ dụng, là Tăng sai thọ thực, hay đàn-việt cung cấp các bữa ăn định kỳ mỗi tháng các ngày mồng một, mồng tám, ngày rằm, hoặc các bữa ăn thường của Tăng, hay được đàn-việt mời.
- Thứ ba, tỳ-kheo sống y nơi gốc cây mà ngủ nghỉ, y theo đây mà xuất gia, mà thọ giới cụ túc, thành phẩm chất tỳ-kheo. Ngươi phải
trọn đời thọ trì điều này. Trường hợp đặc biệt được thọ dụng là một căn phòng riêng biệt, một ngôi nhà nóc nhọn, một căn phòng nhỏ, một hang đá, hay hai căn phòng có chung một cửa.
- Thứ tư, tỳ-kheo sống y nơi các loại thuốc hủ lạn,[91] y trên đây mà được xuất gia, mà thọ giới cụ túc. Ngươi phải trọn đời thọ trì điều này. Trường hợp đặc biệt được thọ dụng là tô, sanh tô, dầu, đường phèn và mật.
k . Giáo giới
[91] Hủ lạn dược 腐爛藥, được hiểu theo nghĩa đen là «thuốc mục nát» truyền thống Pàli hiểu nó là «nước đái quỷ.» xem Trung bộ kinh I, 315b - tức Pàli gọi là pūti-mutta (định nghĩa của PTS Pali-English Dictionary: nước tiểu có mùi rất hôi; thường là nước tiểu của trâu bò được dùng làm thuốc cho tỳ-kheo.) Trong đó, mutta, nếu hiểu tương đương với mukta thì có nghĩa là «cái được trích ra.» Còn pūti, tiếng Phạn cũng vậy; có ba gốc động từ khác nhau. Hoặc từ pūy: bốc thối, hoặc từ pū: tinh lọc; hoặc từ pā: uống. Nếu hiểu từ kép Pàli pūti-mutta gồm có pūti do động từ căn pūy và mutta tức là mūtra, như vậy sẽ có nghĩa nước đái độc thối, hoặc nước đái quỷ hoặc hủ lạn dược như Hán dịch, có lẽ không chính xác, và điều này phản lại nguyên lý y học thường được thấy trong các kinh điển, theo đó, tùy bịnh cho thuốc. Có lẽ nên hiểu từ kép này do động từ căn pū và mukta, nó sẽ có nghĩa loại thuốc được rút ra từ tinh dầu hoặc tinh cốt của các loại thảo mộc. Điều này phù hợp với điểm được qui định trong luật: tỳ-kheo không được dùng các loại cây, rau cỏ đang sống và tươi làm thức ăn, trừ trường hợp đã tác tịnh. Về dịch ngữ khác tương đương hủ lạn dược do Nghĩa Tịnh là trần khí dược 陳棄藥 có thể gần sát ý nghĩa vừa nói.
- Này tân tỳ-kheo, việc thọ giới của ngươi đã xong. Bạch tứ yết-ma như pháp thành tựu, xứ sở thành tựu, Hòa thượng như pháp, A-xà-lê như pháp, chúng Tăng đầy đủ túc số. Vậy ngươi phải khéo thọ trì giới pháp, cần phải khuyến hóa mọi người làm việc phước, xây tháp, cúng dường Phật Pháp Tăng, Hòa thượng, A-xà-lê; tất cả những gì các ngài dạy như pháp không được trái nghịch. Ngươi phải học hỏi, tụng đọc kinh điển, siêng năng nỗ lực để ở trong Phật pháp mà chứng đắc các quả vị Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, thì sơ tâm xuất gia của ngươi mới không luống uổng, quả báo không dứt. Còn những điều nào mà ngươi chưa biết, thì hãy thưa hỏi Hòa thượng A-xà-lê.[92]
Những tiết mục căn bản trong nghi đến đây hoàn tất. Việc xả y cũ, thọ y, bát mới, và việc xin y chỉ, là phận sự đầu tiên mà vị tân tỳ-kheo phải biết. Những điều này sẽ được nói tiếp trong các phần dưới đây.
[92] Nguyên văn Hán, Tứ phần 35, Đại 22, tr.816a 3.