Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Yết - Ma Yếu Chỉ

Yết - Ma Yếu Chỉ

Tác giả: Giảng thuật: Thích Trí Thủ, Biên soạn:Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh, Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng. Dịch giả: Thích Trí Thủ. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 360.

Chương 55: 4. Xuất giới và phá hạ (Trang 276 - 281)

 cũng vẫn thành an cư.[27]
iv. Kiết giới 
Tại các Tăng-già-lam, thông thường phạm vi cương giới của trú xứ đã được tác pháp ấn định. Nếu trú xứ quá nhỏ, mà khi an cư muốn nới rộng hay ngược lại, thì cần phải tác pháp giải cương giới cũ rồi kiết lại. Tác pháp kiết giới, gồm xướng tiêu tướng, và bạch yết-ma, đều đã được nói trong chương II ở trên.
4. XUẤT GIỚI VÀ PHÁ HẠ 
i. Xuất giới tác pháp thọ nhật 
Trong thời gian an cư, không được ra khỏi phạm vi của trú xứ, trừ việc đi khất thực. Tuy nhiên, như đã nói, một trong những mục đích của sự an cư là tạo cơ hội để những người Phật tử tại gia có thể gần gũi và phụng sự Tăng, do đó vì ích lợi của Phật tử tại gia nên mỗi khi họ có thỉnh cầu, tỳ-kheo có thể xuất giới, tức ra khỏi phạm vi của trú xứ an cư, không thể đi và về trong một ngày, mà phải ở lại cách đêm. Trong những trường hợp vì duyên sự chính đáng như vậy, có hai thể thức cho phép xuất giới, xuất giới trong thời hạn từ bảy ngày trở lui, và thời hạn từ bảy ngày đến bốn mươi ngày.
a) Xuất giới bảy ngày 
Tỳ-kheo có duyên sự chính đáng,[28] có thể xuất giới
 

[27] Ngũ phần 19, tr.129c11. Tứ phần 37, tr.830c14.
[28] Thập tụng 24, Đại 23, tr.174a8: được phép xuất giới trong phạm vi bảy ngày theo yêu cầu của bảy chúng: tỳ-kheo, tỳ-
 
trong thời hạn bảy ngày trở lại. Trước khi xuất giới, phải tác pháp thọ nhật chứ không thể tự tiện đi. Đây là tác pháp đối thủ, không phải bạch Tăng, mà chỉ cần bạch với một tỳ-kheo đang an cư trong cùng trú xứ là được. Văn tác bạch như sau:
«Đại đức nhất tâm niệm. Tôi tỳ-kheo… nay có duyên sự… xin được xuất giới bảy ngày. Sau khi duyên sự xong, sẽ trở lại đây an cư. Kính mong đại đức chứng tri.» (nói ba lần)
Nếu tại trú xứ an cư của mình không có tỳ-kheo nào cả, cũng có thể nói với sa-di hoặc cư sĩ. Hoặc nếu hoàn toàn không có ai cả, thì chỉ tâm niệm tác pháp. Tỳ-kheo xuất giới mà không tác pháp thì bị coi là mất hạ.
Sau khi xuất giới, duyên sự xong, trở lại trú xứ an cư, nhưng tạm thời hạn bảy ngày đã hết mà việc chưa xong, nếu trở lại trú xứ thì cần tác pháp tàn dạ rồi mới có thể tiếp tục đến chỗ có duyên sự trước đó. Tàn dạ nghĩa là đêm còn dư. Cũng tác pháp đối thủ như khi xuất giới. Văn bạch như sau:
«Đại đức nhất tâm niệm. Tôi tỳ-kheo… đã thọ pháp xuất giới bảy ngày, đã hết (số ngày) nhưng duyên sự chưa xong, nay còn lại… đêm. Kính mong Đại đức chứng tri.»[29] (nói ba lần)
 

kheo-ni, thức-xoa-ma-na-ni, sa-di, sa-di-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di.
[29] Hành sự sao tư trì ký, thượng 4 (Đại 40, tr.244c19) dẫn Thập tụng. Phép tàn dạ này không thấy trong yết-ma bản của các bộ.
 
b) Yết-ma thọ nhật.
Nếu thời hạn cần thiết đủ để hoàn tất duyên sự từ bảy ngày trở lên, và tối đa là 40 ngày,[30] thì cần phải bạch Tăng. Sau khi Tăng đã tác pháp yết-ma thọ nhật mới được phép xuất giới. Nói là 40 ngày, nhưng thực tế đêm cuối cùng phải có mặt tại trú xứ an cư, do đó thời hạn tối đa là 39 đêm.[31] Thời hạn này không thể vượt qua, vì thời gian ở trong giới cần phải nhiều hơn thời gian ở ngoài. Nếu quá thời hạn này, bị coi là phá hạ.
Tỳ-kheo muốn xuất giới, thỉnh Tăng với túc số là 4 tỳ-kheo, vào giới trường để tác pháp. Sau khi vấn đáp tiền phương tiện cho yết-ma thọ nhật xong, thầy tỳ-kheo yết-ma bạch:
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận tỳ-kheo… thọ pháp quá bảy ngày để xuất giới trong thời hạn… ngày vì duyên sự… sau đó sẽ trở về an cư. Đây là lời tác bạch.
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tỳ-kheo… xin thọ pháp quá bảy ngày để xuất giới trong thời hạn… ngày, vì duyên sự… sau đó sẽ trở về an cư. Các Trưởng lão nào chấp thuận tỳ-kheo…
 

[30] Tứ phần, Tạp yết-ma (Đại 22, tr.1045c7): quá 7 ngày, hoặc 15 ngày, hoặc một tháng. Thập tụng Yết-ma (Đại 23, tr.503b): 39 đêm. Bách nhất yết-ma, Đại 24, tr.471c13: thủ trì tứ thập dạ xuất giới 守持四十夜出界, được phép xuất giới trong thời hạn 40 đêm.
[31] Bách nhất yết-ma, Đại 24, tr.472a12
 
 thọ pháp quá bảy ngày để xuất giới, thời hạn… ngày vì duyên sự… sau đó trở về an cư, thì im lặng. Ai không chấp thuận hãy nói.
«Tăng đã chấp thuận tỳ-kheo… được thọ pháp quá bảy ngày để xuất giới, thời hạn… ngày vì duyên sự.., sau đó trở về an cư, vì im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.»
Tăng đã yết-ma thọ nhật xong, tỳ-kheo thọ nhật phải rời khỏi trú xứ nội trong một ngày, không được để cách đêm, nếu đã bước chân ra khỏi cương giới của trú xứ, không được phép lùi lại. Nếu lỡ có quên cái gì mà trở vào trú xứ, cần phải thỉnh cầu Tăng tác pháp yết-ma thọ nhật lại. Cho rồi mới được phép xuất giới.
ii. Phá hạ
Phá hạ nghĩa là vi phạm các điều thuộc quy chế an cư mà luật đã thiết định. Chủ yếu của sự phá hạ là rời khỏi trú xứ. Có hai trường hợp phá hạ: hợp pháp và không hợp pháp. Phá hạ không hợp pháp là tự mình bước ra khỏi phạm vi của trú xứ an cư mà không có duyên sự, không có tác pháp đúng pháp.
Trường hợp phá hạ không hợp pháp như vậy bị coi là mất hạ, không được tự tứ bất cứ nơi nào.
Trường hợp phá hạ hợp pháp là do có những tai nạn bất ngờ xảy đến. Hoặc khi thọ nhật xuất giới đã hết hạn, nhưng do các tai nạn xảy đến không thể trở về trú xứ an cư kịp thời hạn; trường hợp này không được kể là phá hạ. Nhưng nếu có tai nạn bắt buộc phải rời khỏi trú xứ an cư, để di chuyển đến một trú
xứ khác tiếp tục an cư, trường hợp này cũng không nói là phá hạ. Nếu bị bắt buộc phải rời khỏi trú xứ an cư, nhưng không thể tiếp tục an cư ở bất cứ trú xứ nào khác nữa; đây mới thực sự là phá hạ.
Có tám tai nạn mà tỳ-kheo rời khỏi trú xứ được coi là phá hạ hợp pháp.
1. Nguy hiểm phạm hạnh: tại trú xứ an cư, tỳ-kheo có thể bị những người quyền thế ép buộc phá giới; hoặc có những người nữ thường đến quyến rũ phá giới, hoặc cha mẹ, anh em, thân thích thuyết phục phá giới. Để bảo vệ đời sống tu tịnh hạnh, tỳ-kheo có thể rời bỏ trú xứ này. 
2. Nguy hiểm vì kho tàng: sau khi đã kiết hạ an cư tại một trú xứ nào đó, các tỳ-kheo mới biết rằng ở đây có kho tàng; nếu sống tại đây có thể có những điều nguy hiểm xảy ra.  
3. Quỷ phá hoại: trú xứ an cư của tỳ-kheo thường bị ma quỷ quấy phá, đe dọa sinh mạng. 
4. Rắn độc. 
5. Thú dữ. 
6. Giặc cướp: cả ba trường hợp đều là những tan nạn nguy hiểm đến sinh mạng. 
7. Thiếu thốn các nhu cầu: như ăn uống, thuốc men, hay không có người giúp đỡ.
8. Phá Tăng: Tăng tại trú xứ an cư đang chia rẽ, không hòa hiệp; tỳ-kheo không muốn bị lôi cuốn vào
 sự tranh chấp không thể hòa hiệp, có thể rời bỏ đi nơi khác.
Trong các trường hợp thọ nhật xuất giới và phá hạ được nói trên đây, thì yết-ma thọ nhật không áp dụng cho ni, vì tỳ-kheo-ni không được phép xuất giới quá bảy ngày. Các trường hợp khác, cũng đồng như tỳ-kheo.
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »