Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Yết - Ma Yếu Chỉ

Yết - Ma Yếu Chỉ

Tác giả: Giảng thuật: Thích Trí Thủ, Biên soạn:Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh, Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng. Dịch giả: Thích Trí Thủ. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 360.

Chương 57: 2. Tác pháp tự tứ (Trang 284 - 294)

iii. Vấn đề gởi dục 
Cũng như thuyết giới, tỳ-kheo có duyên sự như pháp có thể gởi dục. Nhưng trong trường hợp thuyết giới, do tính cách tự nguyện và tự giác, do đó sự gởi dục gồm luôn cả sự thuyết tịnh. Trong trường hợp tự tứ, chỉ gởi dục chứ không có sự thuyết tịnh.
Nói tóm lại, ngoài ba điểm khác nhau căn bản trên đây những vấn đề còn lại, cả thuyết giới và tự tứ đều áp dụng nguyên tắc như đã nói trong chương thuyết giới.
2. TÁC PHÁP TỰ TỨ  
i. Dự kỳ sám hối 
Cũng giống như thuyết giới, trước khi Tăng tự tứ, các tỳ-kheo cần phải sám hối cho thanh tịnh. Dự kỳ sám hối thường được làm trước tự tứ một ngày,[35]để các tỳ-kheo có tội có đủ thời gian cần thiết sám hối. Phận sự này không khác với dự kỳ sám hối để thuyết giới, và đã được nói trong chương thuyết giới trên.
ii. Hành trù và hành thảo 
Việc hành trù để kiểm điểm Tăng số là phận sự phải làm để thuyết giới tự tứ. Cách hành trù kiểm Tăng để tự tứ cũng đồng nguyên tắc như thuyết giới.
Riêng tự tứ còn có thêm mục hành thảo.[36] Hành thảo tức phát cỏ. Đây là phỏng theo sự kiện đức Thích
 

[35] Bách nhất yết-ma, Đại 24, tr.472b04, vào đêm 14, nên tụng kinh suốt đêm.
[36] Căn bản, Tùy ý sự, Đại 23, tr.1045b8: hành sinh mao 行 生茅, phát cỏ tranh còn tươi (để lót chỗ ngồi). Cf. Tạp A-hàm 24,
Tôn ngồi trên đệm cỏ cát tường, tọa thiền trong 49 ngày mà thành Chánh giác. Nay để nhắc nhở kỷ niệm đó và để nêu rõ mục đích cao thượng của đời sống xuất gia, do đó có sự phát cỏ này. Tuy nhiên, vì chỉ có tính cách tượng trưng nên không nhất thiết phát mỗi tỳ-kheo một cái đệm cỏ để ngồi, mà chỉ cần phát mỗi vị một cọng cỏ tượng trưng là đủ. Việc phát cỏ do người nhận tự tứ phụ trách, sau khi đã được Tăng tác pháp yết-ma tự tứ. Hành thảo hay phát cỏ là điểm đặc biệt riêng của Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ chứ không thấy nói trong các bộ phái khác, do đó không phải là phận sự bắt buộc.
iii. Ni Tăng sai người thỉnh giáo giới tự tứ  
Một trong tám kỉnh pháp của tỳ-kheo-ni là phải cử người đến giữa đại Tăng cầu thỉnh ba sự tự tứ. Khác với Ni-Tăng cầu thỉnh giáo giới vào mỗi định kỳ nửa tháng thuyết giới là có thể chúc thỉnh, nghĩa là đến già-lam của tỳ-kheo Tăng nhờ một tỳ-kheo thỉnh giáo thọ sư giùm khi Tăng tác pháp thuyết giới; ở đây tỳ-kheo-ni được sai cầu thỉnh giáo giới tự tứ phải tự thân đến trước đại Tăng mà tác bạch. Văn yết-ma như sau:
Ni Tăng sai người thỉnh giáo giới tự tứ.
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng. Tăng sai tỳ-kheo-
 

Đại 2, tr.677a4, vào ngày rằm tháng Bảy, sau khi các tỳ-kheo ngồi xuống theo thứ tự, Thế Tôn nói: «Các ngươi tất cả hãy ngồi trên đệm cỏ.»
ni…qua đại Tăng vì tỳ-kheo-ni Tăng cầu nói ba sự tự tứ là thấy, nghe và nghi. Đây là lời tác bạch.
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tăng nay sai tỳ-kheo-ni… qua đại Tăng vì tỳ-kheo-ni Tăng cầu nói ba sự tự tứ là thấy, nghe và nghi. Các Trưởng lão nào chấp thuận, Tăng nay sai tỳ-kheo-ni… qua đại Tăng vì tỳ-kheo-ni Tăng cầu nói ba sự tự tứ là thấy, nghe và nghi, thì im lặng. Ai không chấp thuận hãy nói.
«Tăng đã chấp thuận ni Tăng nay sai tỳ-kheo-ni qua đại Tăng vì tỳ-kheo-ni Tăng cầu nói ba sự tự tứ là thấy, nghe và nghi vì im lặng, Tôi ghi nhận như vậy.»
Tỳ-kheo-ni được sai cầu thỉnh tự tứ hỏi kỹ cho biết ngày giờ tỳ-kheo Tăng tự tứ, và thông báo cho người chấp sự của Tăng biết, để khi tác pháp tự tứ, hỏi đến chỗ: «Có ai sai tỳ-kheo-ni đến thỉnh cầu giáo giới tự tứ không?» Sẽ được gọi vào mà bạch Tăng cầu thỉnh.
iv. Yết-ma tự tứ       
Phân loại theo túc số, thì yết-ma tự tứ có ba loại là Tăng pháp yết-ma gồm từ năm tỳ-kheo trở lên, đối thủ tự tứ gồm từ bốn tỳ-kheo trở xuống đến hai vị, tâm niệm tự tứ áp dụng trong trường hợp tỳ-kheo vì duyên sự hợp pháp không đến tự tứ.
Trong ba phân loại theo túc số tự tứ này, về Tăng pháp yết-ma tự tứ, nếu phân loại theo hoàn cảnh
thì có hai: cá nhân tự tứ và tập thể tự tứ. Hoàn cảnh ở đây là có hay không có nạn duyên.
Cá nhân tự tứ, là từng tỳ-kheo một, từ Thượng tọa cho đến tỳ-kheo nhỏ nhất, lần lượt mỗi người tự nói ba lần cầu thỉnh tự tứ. Tự tứ tập thể là loạt ba người cùng tác bạch tự tứ một lần. Trong trường hợp này, Tăng sai nhiều tỳ-kheo Thượng tọa làm người nhận tự tứ. Các vị này đều bạch tự tứ theo thể thức cá nhân, sau đó mới đến lượt đại chúng. Từng nhóm tỳ-kheo ba người lần lượt bạch tự tứ. Chỉ giới hạn số ba người, vì Tăng tự tứ với Tăng không được coi là hợp pháp. Đây là nạn duyên không bức thiết lắm. Nếu nạn duyên quá bức thiết, không đủ thời gian để tự tứ cho số đông tỳ-kheo, thì có thể tự tứ theo thể thức tác bạch vắn tắt. Tức thay vì bạch ba lần, ở đây chỉ bạch hai hay một lần. Nhưng các thể thức này phải cân nhắc theo nạn duyên, không thể tự tiện.
a) Vấn đáp tiền phương tiện
Yết-ma tự tứ là nói tổng quát trong đó căn bản gồm hai thể thức yết-ma: một bạch nhị Tăng sai người nhận tự tứ và một đơn bạch chính thức tự tứ. Yết-ma sai người hành xá-la có thể áp dụng hay không đều được phép tùy tiện. Nếu kể luôn cả yết-ma sai người hành xá-la này nữa, thì yết-ma tự tứ gồm có ba tiết mục tất cả.
Như vậy, trong vấn đáp tiền phương tiện, khi hỏi: «Tăng nay hòa hiệp để làm gì?» Thì được trả lời tổng quát là «Yết-ma tự tứ.» Mặc dù trong tác pháp
 tự tứ gồm có hai mục yết-ma căn bản là bạch nhị yết-ma Tăng sai và đơn bạch yết-ma tự tứ, nhưng chỉ một lần vấn đáp tiền phương tiện mà thôi.
Thể thức tác pháp tiền phương tiện:
Sau khi đánh hiệu tập Tăng, các tỳ-kheo đã an tọa ấn định trong phạm vi giới trường, Thượng tọa hỏi:
- Tăng đã họp chưa?
Duy na đáp:
- Tăng đã họp.
- Hòa hiệp không?
- Hòa hiệp.
- Người chưa thọ cụ túc đã ra chưa?
- Đã ra.
- Các tỳ-kheo không đến có thuyết dục tự tứ không?
Việc gởi dục, nhận dục và thuyết dục đều giống như trong thuyết giới. Có khác thay vì nói ‹Gởi dục và thanh tịnh› thì ở đây nói ‹Gởi dục tự tứ.›
Thượng tọa hỏi tiếp:
- Có ai sai tỳ-kheo-ni đến thỉnh giáo giới tự tứ không?
Nếu có thì duy na đáp: Có, và cho gọi tỳ-kheo-ni thọ sai vào. Tỳ-kheo-ni thọ sai, sau khi đảnh lễ đại Tăng quỳ xuống bạch:
«Bạch Đại đức Tăng (nói tên chùa ni) tỳ-kheo-ni Tăng hạ an cư đã xong. Tăng sai chúng
con tỳ-kheo-ni… qua đại Tăng vì tỳ-kheo-ni Tăng cầu nói ba sự tự tứ, là các tội được thấy, được nghe, được nghi ngờ. Ngưỡng mong Đại đức Tăng rũ lòng thương tưởng chỉ giáo. Nếu chúng con thấy có tội sẽ như pháp sám hối.» (nói ba lần)
Trong Tăng, nếu tỳ-kheo nào thấy có điều gì cần chỉ giáo về ba việc thấy, nghe và nghi đối với ni chúng thì nói, còn không thì tất cả im lặng. Chờ đợi sự chỉ giáo của các tỳ-kheo một lúc, Thượng tọa nói lời giáo giới:
«Trong đại Tăng từ trên xuống dưới thảy đều im lặng như vậy, thật do Ni chúng bên trong chuyên cần ba nghiệp, bên ngoài vô sự, cho nên không có điều gì trái phạm. Tuy nhiên như vậy, các vị hãy nói lại với ni chúng, đại Tăng có giáo sắc rằng ni chúng như pháp mà tự tứ, cẩn thận chớ buông lung.»
Tỳ-kheo-ni thọ sai đáp:
«Y giáo phụng hành.»
Rồi đảnh lễ đại Tăng mà lui ra. Bây giờ Thượng tọa hỏi giữa Tăng:
- Tăng nay hòa hiệp để làm gì? 
Duy na đáp:
- Yết-ma tự tứ.  
b) Yết-ma Tăng sai người nhận tự tứ  
Theo nguyên tắc mỗi tỳ-kheo phải tự mình quỳ trước Tăng để thỉnh cầu Tăng chỉ giáo cho những khuyết
 điểm mà mình có thể phạm trong suốt ba tháng an cư.[37] Nhưng phần lớn các Luật của các bộ phái được truyền dịch tại Trung quốc đều có việc sai người nhận tự tứ.[38] Người nhận tự tứ là người được Tăng đề cử để chỉ điểm sai lầm cho các tỳ-kheo. Tỳ-kheo cần hội đủ năm đức tính để được Tăng sai làm người nhận sự tự tứ. Năm đức tính đó là: không thiên vị, không sân hận, không sợ hãi, không ngu dốt, biết rõ nguyên tắc cử tội. Sở dĩ có vấn đề Tăng sai tỳ-kheo đủ các đức tính cần thiết để làm người nhận tự tứ là tránh các trường hợp một số tỳ-kheo hiếu sự tự tiện nêu tội người cầu tự tứ một cách càn dỡ, hoặc phá chơi, hoặc cố ý, gây sự phiền phức giữa Tăng.
Sau khi vấn đáp tiền phương tiện xong, Thượng tọa hỏi:
- Trong chúng có vị nhân giả nào kham năng làm người nhận tự tứ không? 
Các tỳ-kheo hội đủ đức tính cần thiết để làm người nhận tự tứ ứng tiếng nói:
«Tôi tỳ-kheo… kham năng.»
Một lần yết-ma Tăng sai có thể từ một đến ba vị. Nếu từ bốn vị đến năm hay sáu vị, thì chia làm hai nhóm, là hai lần yết-ma Tăng sai. Nếu nhiều hơn
 

[37] Ngũ phần 19, tr.131b5.
[38] Tứ phần 37, tr.836b19, Ngũ phần 19, tr.131c1, Tăng kỳ 27, tr.451b20: thọ tự tứ nhân 受自恣人. Bách nhất yết-ma, Đại 24, tr.472b06: Tùy ý bí-sô 隨意苾芻.
 
nữa, thì phân thành nhiều nhóm và yết-ma nhiều lần, mỗi lần tối đa là ba vị.
Thượng tọa bạch yết-ma Tăng sai:
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay sai tỳ-kheo… và tỳ-kheo… làm người nhận tự tứ. Đây là lời tác bạch.
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tăng sai tỳ-kheo… tỳ-kheo… làm người nhận tự tứ. Các trưởng lão nào chấp thuận Tăng sai tỳ-kheo… tỳ-kheo… làm người nhận tự tứ, thì im lặng. Ai không chấp thuận hãy nói.
«Tăng đã chấp thuận tỳ-kheo… tỳ-kheo… làm người nhận tự tứ, vì im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.»
c) Đơn bạch tự tứ 
Các tỳ-kheo thọ sai bước ra đảnh lễ Tăng. Một vị trong các vị được thọ sai bạch Tăng chính thức tác pháp tự tứ.
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay hòa hiệp tự tứ. Đây là lời tác bạch.»
d) Chính thức tự tứ 
Thượng tọa pháp chủ nói tự tứ trước hết. Tiếp theo đó, các vị thọ sai nói tự tứ, rồi lần lượt đến các tỳ-kheo khác. Khi bạch tự tứ, nếu là hàng Thượng tọa, thì có thể đứng hay quì đều được cả. Nếu Thượng tọa đứng, thì tất cả chúng có thể đứng hay quỳ khi
 nói tự tứ. Nếu Thượng tọa quỳ nói tự tứ, thì tất cả chúng đều phải quỳ để nói tự tứ.
Người tự tứ rời khỏi chỗ ngồi, lễ người nhận tự tứ một lễ, rồi nói:
«Đại đức nhất tâm niệm. Hôm nay chúng Tăng tự tứ. Tôi tỳ-kheo… cũng tự tứ. Nếu có tội được thấy, được nghe, được nghi, nguyện đại đức thương tưởng chỉ giáo tôi. Nếu tôi thấy có tội, sẽ như pháp sám hối.» (nói ba lần)
Người nhận tự tứ đáp:
-Thiện. 
Người tự tứ đáp:
- Nhĩ. 
Các tỳ-kheo theo thứ tự lớn đến nhỏ nói tự tứ xong, các vị nhận tự tứ bước ra giữa Tăng, một vị bạch:
«Tăng nhất tâm tự tứ đã xong.»
Tác pháp tự tứ đến đây là hết. Các chi tiết như lễ Phật, hồi hướng v.v… đều có thể tùy tiện.
e) Tự tứ vắn tắt: 
Nếu vì nạn duyên không đủ thời gian để tự tứ lần lượt từng người, hay đủ để nói ba lần tự tứ tập thể hay đồng loạt. Nhưng muốn tự tứ theo thể thức này thì phải yết-ma.
Thượng tọa bạch cùng:
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay mỗi mỗi
đồng loạt nói tự tứ ba lần. Đây là lời tác bạch.»
Nếu không đủ thời gian để nói ba lần tự tứ, mà chỉ có thể nói hai hoặc một lần, thì trong lời bạch yết-ma thay đổi cho thích hợp.
f) Đối thủ tự tứ 
Tăng không đủ túc số năm người, không thể thực hiện Tăng pháp tự tứ. Mỗi người đổi nhau mà tác bạch rằng:
«Bạch Đại đức nhất tâm niệm, ngày nay chúng Tăng tự tứ. Tôi tỳ-kheo… thanh tịnh.» (nói ba lần)
Tức là, nếu gồm bốn tỳ-kheo, thì một ngưới nói tự tứ với ba người còn lại. Nếu gồm có ba tỳ-kheo, thì đổi lời bạch thành ‹Hai Đại đức nhất tâm niệm›, và nếu chỉ có hai tỳ-kheo thì cũng đổi lại là ‹Đại đức nhất tâm niệm.›
g) Tâm niệm tự tứ 
Nếu không có tỳ-kheo nào khác để đối thú tác pháp, thì tự mình y hậu chỉnh tề, tâm niệm. Có thể miệng nói thành lời để tự tứ.
v. Triển hạn nhật kỳ tự tứ 
Theo nguyên tắc, đủ 9 tuần an cư thì Tăng hòa hiệp tác pháp tự tứ. Nếu có duyên sự đặc biệt cần triển hạn thì phải họp Tăng tác pháp yết-ma triển hạn.
Có hai duyên sự để có thể triển hạn. Thứ nhất do Tăng hòa hiệp an cư có những tiến bộ đáng kể nếu có thể kéo dài thêm thời hạn an cư để các tỳ-kheo có thêm
thời gian tu tập hầu có thể chứng đắc đạo quả Niết-bàn thì Tăng có thể tác pháp yết-ma triển hạn nhật kỳ tự tứ, tối đa là một tháng.[39]
Triển hạn tự tứ để tiến tu
Tập họp toàn thể Tăng trong trú xứ. Thượng tọa bạch Tăng:
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng ngày hôm nay không tự tứ. đợi đủ bốn tháng an cư xong sẽ tự tứ. Đây là lời tác bạch.»
Thứ hai do Tăng chưa được thanh tịnh và hòa hiệp. Nguyên do có thể do có những tranh chấp ngay giữa các tỳ-kheo cùng sống chung trong trú xứ an cư hoặc do các tỳ-kheo khác hiện diện.[40] Trường hợp này giống như trường hợp thuyết giới và do đó nguyên tắc để triển hạn giống nhau.
Triển hạn tự tứ do phá Tăng 
Văn bạch yết-ma:
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Ngày hôm nay Tăng không tự tứ. Đợi đến ngày 15 (hoặc 16) tháng đến (cũng có thể nói đợi đến ngày 30 hoặc 29) sẽ tự tứ. Đây là lời tác bạch.»
Đến hết hạn kỳ triển hạn, mà sự tranh chấp giữa Tăng vẫn chưa được giải quyết, có thể triển hạn thêm 15 ngày nữa. Văn bạch y như trên, chỉ đổi những từ
 

[39] Tứ phần 38, tr.840b4; Ngũ phần 20, tr.133b18.
[40] Tứ phần 38, ibid.; Ngũ phần 20, ibid.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »