phải đặt chân lên đất của trú xứ trước khi ánh sáng mai hiện. Tuy nhiên, trong trường hợp do duyên sự không thể đến đúng thời điểm, vẫn không vi phạm nếu tâm niệm luôn luôn hướng vào trú xứ an cư.
3. THỌ AN CƯ
Tăng có ba việc phải làm để tác pháp thọ an cư. Đó là phân phòng xá, hành trù và bạch an cư.
i. Phân phòng xá
Tăng đoàn nguyên thủy hoàn toàn y chỉ trên bốn Thánh chủng, do đó, các tỳ-kheo không sống cố định tại một trú xứ nào. Gặp sự thuận tiện nơi nào trên đường hành đạo và hóa đạo của mình, thì kiết an cư tại đó. Vì vậy, trước khi thọ pháp an cư Tăng-già tại mọi trú xứ thường phải phân chia lại phòng xá, và kể luôn cả cho tỳ-kheo. Để cho việc phân chia phòng xá được công bình và hợp lý, Tăng-già của mọi trú xứ thường phải tác pháp yết-ma cử người phụ trách[19] công tác này. Ngày nay, nhất là tại nước ta, mỗi trú xứ già-lam luôn luôn có các tỳ-kheo thường trú, và số tỳ-kheo này phần lớn nhiều hơn tỳ-kheo khách đến an cư, do đó công việc phân chia phòng xá thường được phụ trách bởi tỳ-kheo thường trú có trách nhiệm và như vậy, mục đích yết-ma cử người phân phòng xá ít khi được thực hiện. Nhưng để tiện tham khảo, dưới đây là văn bạch yết-ma này:
[19] Tứ phần 37, tr.831a12, người có đủ 5 đức tính để được đề cử: không thiên vị, không sân, không si, biết rõ đáng chia hay không đáng chia.
Sau khi họp Tăng tại giới trường, vấn đáp tiền phương tiện theo thông lệ, tỳ-kheo yết-ma bạch Tăng rằng:
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận để cử tỳ-kheo… chia phòng xá và ngọa cụ. Đây là lời tác bạch.
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tăng sai tỳ-kheo… phân chia phòng xá ngọa cụ. Các Trưởng lão nào chấp thuận Tăng sai tỳ-kheo… phân chia phòng xá và ngọa cụ thì im lặng. Ai không chấp thuận hãy nói.
«Tăng đã chấp thuận, Tăng sai tỳ-kheo… phân chia phòng xá và ngọa cụ, vì đã im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.»
ii. Hành trù
Quy tắc hành trù đại khái cũng như trường hợp thuyết giới. Sau phận sự phân chia phòng xá và ngọa cụ là đến việc phát và nhận thẻ để kiểm điểm số người an cư, gồm có tỳ-kheo và sa-di. Các công việc này đều được thực hiện trước ngày chính thức thọ an cư một ngày. Tức là nếu biết an cư vào ngày 16 tháng 4 thì tác pháp hành trù cần được thực hiện vào ngày 15 tháng đó. Pháp hành trù này gồm có yết-ma đơn bạch để bố cáo cho Tăng biết việc nhận thẻ; yết-ma bạch nhị sai người phát thẻ; và yết-ma đơn bạch chính thức phát thẻ; cuối cùng là đơn bạch để bố cáo cho Tăng biết đã phát và thu thẻ, kiểm điểm Tăng số
tỳ-kheo và sa-di thọ pháp an cư. Dưới đây là văn yết-ma:
a) Cáo tri hành trù
Sau khi tập họp Tăng, vấn đáp tiền phương tiện xong, vị Thượng tọa pháp chủ bạch Tăng.
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tăng nay chuẩn bị tác pháp hạ an cư. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận ngày hôm nay Tăng nhận thẻ, ngày mai kiết hạ an cư. Đây là lời tác bạch.»
b) Sai người hành trù
Tăng đề cử một hay hai tỳ-kheo làm người phát thẻ và thu thẻ. Nếu số tỳ-kheo quá đông cần phải cử nhiều, từ 5 hay 6 tỳ-kheo trở lên, thì phải tác pháp hai lần, mỗi lần Tăng sai tối đa 3 tỳ-kheo trở xuống. Văn bạch yết-ma như sau:
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay sai tỳ-kheo… vì Tăng hành xá-la. Đây là lời tác bạch.
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tăng sai tỳ-kheo… vì Tăng hành xá-la. các trưởng lão nào chấp thuận Tăng sai tỳ-kheo… vì Tăng hành xá-la, thì im lặng. Ai không chấp thuận thì hãy nói.
«Tăng đã chấp thuận, Tăng sai tỳ-kheo… vì Tăng hành xá-la, vì đã im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.»
Người thọ sai, sau khi đã được Tăng sai, bạch Tăng trước khi phát và thu thẻ. Văn bạch như sau:
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tôi tỳ-kheo… vì Tăng hành xá-la. Đây là lời tác bạch.»
Bạch Tăng xong, các tỳ-kheo thọ sai bưng mâm thẻ đi phát. Theo thứ tự, từ vị Thượng tọa lớn nhất trở xuống. Sa-di không dự tác pháp yết-ma trong giới trường, do đó tập hợp ở bên ngoài để nhận thẻ. Người nhận thẻ rời khỏi chỗ ngồi, quì và nhận. Tiếp theo, người thọ sai thu thẻ để vào một cái mâm khác. Phát và thu xong, bưng mâm thẻ ra ngoài đếm.
Các luật sư Trung hoa còn thêm rằng, thẻ thứ nhất dâng lên đức Thích-ca, kế là Thượng tọa pháp chủ. Người phát thẻ bưng mâm thẻ đem trước bàn Phật, lễ một lễ, rồi đứng dậy, hay dâng thẻ và xướng: «Trung thiên Giáo chủ Thích ca Mâu Ni Phật nhận thẻ thứ nhất.»[20] Người nhận thẻ bưng cái mâm không đi theo, lễ Phật một lễ rồi thu thẻ lại đặt vào mâm. Thẻ cuối cùng được phát cho Hộ pháp. Người phát thẻ xướng: «An cư Hội thượng Vi-đà Bồ tát nhận thẻ cuối cùng.»[21] Người thu thẻ đi theo thu lại để vào mâm.
[20] Căn bản, An cư sự, Đại 23, tr.1041c10: «Đại Sư Giáo Chủ tiên trí nhất trù 大師教主先置一籌» một thẻ đầu tiên được đặt chỗ Đức Phật Thích-ca. Cf. Bách nhất yết-ma, Đại 24, tr.470c17
[21] Nghi thức này chỉ thấy trong Căn bản An cư sự, ibid. :«thủ hộ từ thiên thần trù » một thẻ cho Thiên thần Hộ tự. Cf. Bách nhất yết-ma, ibid.
Việc phát thẻ đến đức Bổn sư và Hộ pháp không thấy nói trong luật bản, mà chỉ thấy nói trong Yết-ma chỉ nam. Tính cách hợp pháp của nó cần phải thảo luận nhiều. Ở đây chỉ ghi lại tiện việc tham khảo mà thôi.
Phát thẻ, thu thẻ và đếm thẻ xong, người thọ sai trở lại trước Tăng và bạch:
«Nay là năm… kết an cư ba tháng phần đầu của mùa hạ. Gồm (số) tỳ-kheo và (số) sa-di. Tăng hành xá-la đã xong.»
iii. Bạch an cư
Tác pháp bạch an cư được chia làm hai trường hợp, có khác nhau chút đỉnh, tức tác pháp của hàng Thượng tọa, và tác pháp của đại chúng. Đây là sự ấn định của các luật sư Trung hoa,[22] còn trong các luật bản thì không có sự phân biệt này.
a) Tác pháp của hàng Thượng tọa
Trong đây gồm cả vị pháp chủ, cũng gọi là thiền chủ, là vị luật sư y chỉ cho đại chúng. Sự khác nhau được phân biệt giữa hàng Thượng tọa và đại chúng là do bởi các Thượng tọa nương trên vị luật sư y chỉ, do đó văn bạch an cư có hơi sai khác.
Theo thứ tự, vị Thượng tọa lớn nhất tác pháp đối thủ thọ an cư với một vị Thượng tọa gần ngang hàng. Cả
[22] Cũng chỉ thấy quy định trong Yết-ma chỉ nam. Tùy cơ yết-ma, và Tăng yết-ma (Hoài Tố) không thấy phân biệt.
hai vị hoặc cùng đứng hoặc cùng quì cả. Văn bạch nói như sau:
«Đại đức nhất tâm niệm. Tôi tỳ-kheo… nay y nơi (tên trú xứ) Tăng-già lam[23] an cư ba tháng đầu của mùa hạ. Nếu phòng xá có hư hại, sẽ tu bổ.» (nói ba lần)
Văn bạch trên đây nói theo luật Tứ phần.[24] Các luật khác đại khái giống nhau. Chỉ riêng luật Ma-ha Tăng-kỳ[25] không có câu kết cuối, tức câu ‹Nếu phòng xá có hư hại, sẽ tu bổ.› Các Luật dù có ghi câu này nhưng không thấy có giải thích. Luật Ma-ha Tăng-kỳ được coi là gần luật bộ nguyên thủy hơn cả. Điều này cho thấy trong lịch sử chế độ Tăng-già giữa các bộ phái, phận sự an cư càng về sau càng được giới hạn chặt chẽ. Như đoạn trên có nhắc đến kinh Chánh pháp niệm xứ, trong đó nói, tỳ-kheo an cư ngoài việc đại tiểu tiện ra phải thường xuyên ngồi kiết già tọa thiền chứ không được làm các công việc linh tinh khác. Cũng vậy, giữa các bộ phái, dù các Luật không giải thích, người ta cũng thấy có một sự ấn định gần như tương tự. Nhưng nhất định có trường hợp đã xảy ra là trong khi an cư mà thảng hoặc phòng xá có hư hại, và lúc đó lại không có các cư sĩ để làm thay hộ, các tỳ-kheo phải tự mình sửa sang lấy, cho nên qui
[23] Tứ phần 37, tr.380c8: hoặc y nơi tụ lạc gì, hoặc y nơi phòng xá nào.
chế an cư được nới rộng ra một chút bằng câu ‹nếu phòng xá có hư hại, sẽ tu bổ› nêu trên.
Sau khi vị Thượng tọa lớn nhất, thường là vị luật sư y chỉ của đại chúng, đã tác pháp thọ an cư xong, lần lượt đến các Thượng tọa, theo thứ tự từ lớn đến nhỏ. Mỗi vị đều tác pháp đối thủ với vị Thượng tọa luật sư y chỉ ấy mà thọ an cư.
b) Tác pháp của đại chúng
Theo Phật chế, tại mỗi trú xứ an cư phải có một vị Thượng tọa làm luật sư y chỉ cho đại chúng, để xử trị và nhắc nhở các tỳ-kheo chưa thông suốt luật.[26]
Vì đại chúng an cư cần phải nương vào luật sư y chỉ, do đó văn bạch có khác với hàng Thượng tọa. Văn bạch như sau:
Theo thứ tự lớn nhỏ. Tỳ-kheo lớn nhất trong đại chúng bạch an cư trước. Vị này bước ra lễ Thượng tọa y chỉ một lễ rồi quì bạch:
«Đại đức nhất tâm niệm. Con tỳ-kheo… nay y nơi (nói tên trú xứ) Tăng-già lam an cư ba tháng đầu của mùa hạ. Nếu phòng xá có hư hại, sẽ tu bổ.»
Thượng tọa nói:
«Vậy hãy cẩn thận chớ buông lung.»
[26] Ngũ phần 19, tr.129c6: Phải an cư tại trú xứ có tỳ-kheo trì luật. Hoặc cách trú xứ có tỳ-kheo trì luật bằng đoạn đường khứ hồi trong vòng bảy ngày. Tứ phần 59, tr.1004b23: các mùa xuân, thu, đông, có thể y chỉ bốn bậc luật sư. Nhưng hạ an cư phải y chỉ Luật sư đệ ngũ. Nếu không, ba-dât-đề.
Đáp:
«Thọ trì.» (hay Y giáo phụng hành)
Thượng tọa hỏi tiếp:
«Y vị nào làm luật sư?»
«Y (nói hiệu luật sư y chỉ) làm luật sư.»
Thượng tọa nói:
«Có điều gì nghi ngờ nên đến hỏi.»
«Nhĩ.» (hay Kính vâng)
Trên đây là văn bạch tiền an cư. Nếu là hậu an cư thì cũng vậy, nhưng đổi từ ‹ba tháng đầu› thành ‹ba tháng cuối.› Tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di và sa-di-ni cũng tác pháp như trên, nhưng đổi các từ xưng hô cho thích hợp. Ngoài cách Tăng pháp đối thủ an cư trên, còn có cách tâm niệm an cư.
c) Tâm niệm an cư
Trong trường hợp không có người để y chỉ hoặc ở một mình, tỳ-kheo được phép tác pháp tâm niệm an cư. Tỳ-kheo-ni không được phép sống riêng biệt do đó không có tác pháp tâm niệm an cư. Chỉnh trang y hậu, có thể đến trước tượng Phật, quì bạch thành tiếng (không được nói thầm) như sau:
«Con tỳ-kheo… nay y nơi (nói tên trú xứ) an cư ba tháng đầu (hay cuối) của mùa hạ.» (nói ba lần)
Nếu không tác pháp như vậy thì không thành an cư. Nhưng nếu lỡ quên, mà trước đã có chủ ý an cư, thì