Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Yết - Ma Yếu Chỉ

Yết - Ma Yếu Chỉ

Tác giả: Giảng thuật: Thích Trí Thủ, Biên soạn:Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh, Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng. Dịch giả: Thích Trí Thủ. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 360.

Chương 43: 3. Tập tăng hòa hợp (Trang 220 - 224)

trú cần áp dụng luật cưỡng bức các tỳ-kheo khách ấy phải hòa hợp thuyết giới.
3. TẬP TĂNG HÒA HỢP
Theo nguyên tắc chung, mỗi loại yết-ma đều có bốn trường hợp cần nghiệm xét để biết thành tựu hay không thành tựu. Bốn trường hợp tổng quát này là:
a. Biệt chúng phi pháp;
b. Biệt chúng như pháp;
c. Hòa hợp phi pháp;
d. Hòa hợp như pháp.[22]
Trong đó, trường hợp thứ tư được nói là yết-ma thành tựu. Yết-ma thuyết giới cũng không ngoài bốn trường hợp tổng quát vừa nêu. Chi tiết các trường hợp này đã được nói trong chương I, nên đây không nhắc lại.[23]
Để cho yết-ma thuyết giới được thành tựu, khi tác pháp cần phải cứu xét cẩn thận các trường hợp biệt chúng và phi pháp. Trong văn để thuyết giới, vì đây là loại tác pháp định kỳ thường xuyên, và là phận sự của tất cả tỳ-kheo không trừ một ai, do đó có một vấn đề riêng biệt không giống các loại yết-ma khác.
Muốn cho Tăng hoàn toàn hòa hợp thuyết giới, có bốn vấn đề cần lưu ý: địa điểm thuyết giới, thời gian,
 

[22] Tứ phần 36, tr.821b29; Thập tụng 22, Đại 23, tr.159a 22. Cf. Mahāvagga ii. 111.
[23] Xem thêm, 7 phi tướng của Yết-ma, tiết 2, Chương 1 trên.
 
nhân số và phương thức tập hợp. Địa điểm thuyết giới là giới trường và đại giới sống chung của tỳ-kheo trong cùng một trú xứ. Vấn đề này đã được nói rõ trong chương II, về cương giới. Thời gian thuyết giới là các ngày định kỳ bố-tát của Tăng cũng đã được nói rõ ở đoạn trên. Nhân số, là số tỳ-kheo sống chung cùng trú xứ; trong đây có vấn đề kiểm điểm Tăng số bằng phương pháp hành xá-la, tức đếm thẻ, và việc gởi dục của các tỳ-kheo vì những duyên sự chính đáng không dự nghe thuyết giới. Về phương thức tập họp, là sự đánh hiệu kiền chùy; điều này cũng đã được nói rõ trong chương I, tổng quát về các thủ tục tiến hành tác pháp yết-ma. Trong mục này, sẽ chỉ nói riêng về vấn đề hòa hợp. Việc kiểm điểm Tăng số bằng cách đếm thẻ và việc gởi dục cũng như thuyết dục sẽ được nói trong các mục kế tiếp.
Trước khi đi vào một số chi tiết trong vấn đề tập Tăng hòa hợp, ở đây cần nhắc lại điều đã được nói trong chương I, đó là: hai phân loại tổng quát về Tăng, gồm Tăng thường trú và Tăng chiêu-đề. Tăng thường trú là một cộng đồng gồm các tỳ-kheo cùng sống chung trong một cương giới già-lam trong một khoảng thời gian nào đó. Đời sống nguyên thủy của tỳ-kheo không hề định cư lâu dài tại một trú xứ. Do sự phát triển chế độ Tăng viện về sau, có những tỳ-kheo định cư hoặc vĩnh viễn hoặc lâu dài tại một trú xứ. Dù vậy trong tinh thần luật chế, Tăng thường trú không phải là chủ nhân của trú xứ ấy. Cho nên, khi có vấn đề Tăng sự gì xảy ra cần giải quyết theo các nguyên tắc của luật chế, tại một trú xứ nào, thì sự
giải quyết phải dựa trên tinh thần dân chủ và bình đẳng, không phân biệt Tăng thường trú hay Tăng khách mà tất cả đều có những quyền lợi và những bổn phận ngang nhau.
Còn Tăng chiêu-đề, tức Tăng bốn phương, chỉ cho các tỳ-kheo không thuộc về một trú xứ nào cả. Họ đến hay đi tùy sở thích, tùy nhu cầu hành đạo và hóa đạo. Nhưng khi họ đến một trú xứ nào, thì họ được coi là thuộc trú xứ đó, cùng dự các Tăng sự và cùng được phân chia đồng đều các lợi dưỡng ngang như các tỳ-kheo thường trú ở đó. Quyền lợi và bổn phận của họ trong vấn đề thuyết giới cũng vậy.
Như vậy, không có trú xứ nào thuộc hẳn về nhóm Tăng nào làm chủ, dù là Tăng thường trú hay Tăng chiêu-đề. Điều này cần ghi nhận để có thể hiểu rõ các sự việc có thể xảy ra sau đây.
Về hạn kỳ thuyết giới. Tại một trú xứ, các tỳ-kheo thường trú ở đây tất nhiên có định kỳ thuyết giới theo sự thuận tiện của họ. Nếu không có duyên sự bất ngờ nào xảy ra, đến định kỳ thuyết giới, các tỳ-kheo thường trú của trú xứ này tập Tăng hòa hợp thuyết giới theo thường lệ. Nhưng nếu vào ngày thuyết giới, có một số tỳ-kheo từ các trú xứ khác đến, hoặc các tỳ-kheo thuộc Tăng chiêu-đề đến dự thuyết giới, thì hạn kỳ thuyết giới cần được giải quyết linh động tùy theo yêu cầu. Thí dụ, các tỳ-kheo thường trú theo thông lệ thuyết giới vào ngày 15. Nhưng ngày 14 có các tỳ-kheo đến, họ muốn thuyết giới vào ngày 14 để có thể phù hợp với hoàn cảnh của họ. Trong trường hợp này, nếu số tỳ-kheo
thường trú ít hơn tỳ-kheo khách, thì thẩm quyền thuộc về sự đồng ý chung của các tỳ-kheo khách, mà thuyết giới vào ngày 14. Trái lại, nếu số tỳ-kheo khách ít hơn họ phải tuân theo thông lệ và quyết định của các tỳ-kheo theo thường trú.[24] Chúng ta cũng nên nhắc lại rằng, trong một nửa tháng, tại một trú xứ không được phép có hai ngày thuyết giới trừ trường hợp trung gian thuyết giới nhưng cũng không được phép thuyết giới trong hai ngày liên tiếp. Nói đơn giản, tỳ-kheo thường trú không thể tự nói mình là chủ nhân của trú xứ mà tự quyết định thuyết giới hay không thuyết giới vào ngày nào, bất chấp ý kiến của tỳ-kheo khách.
Về thể thức thuyết giới, trong khi các tỳ-kheo đang thuyết giới, có một số các tỳ-kheo khách đến. Trường hợp này có một số chi tiết khác nhau.[25]
Tỳ-kheo khách, bất kể là một hay nhiều, khi đến một trú xứ nào mà nơi đó Tăng đang thuyết giới, nhất thiết phải tham dự, không được phép ở ngoài. Nếu không tham dự, tỳ-kheo này phạm tội biệt chúng, và cần được xử trị như pháp. Nếu họ đến trễ, khi Tăng đã tụng xong phần tựa, hay xong toàn bộ giới kinh, các tỳ-kheo khách này phải bạch Tăng rằng mình thanh tịnh. Trong trường hợp số tỳ-kheo khách bằng hay đông hơn số tỳ-kheo đang thuyết giới, họ có thể
 

[24] Tứ phần 36, tr.827b6. Tăng kỳ 27, tr.449a2. Cf. Mahāvagga ii, Vin. iv. tr.132.
[25] Tứ phần, ibid.,
 
yêu cầu thuyết lại từ đầu, nhưng chỉ đọc từ phần tựa trở xuống chứ không bạch yết-ma nữa.
Ở trú xứ nào chỉ có một cho đến ba tỳ-kheo thường trú, không thể tác pháp yết-ma thuyết giới, đến ngày thuyết giới các tỳ-kheo này dọn sẵn các chỗ ngồi nghe thuyết giới và chờ xem có tỳ-kheo khách nào đến cho đủ số Tăng thuyết giới. Nếu chờ không được, họ tác pháp đối thủ với nhau. Lần lượt một tỳ-kheo này hướng đến hai tỳ-kheo khác, hoặc lạy hoặc quỳ hoặc đứng chắp tay, tùy theo giới lạp lớn nhỏ và bạch rằng:
«Bạch hai Đại đức, xin ghi nhận cho rằng, hôm nay là ngày 15 (hoặc 14) tháng trắng (hoặc đen), ngày chúng Tăng thuyết giới. Tôi tỳ-kheo… thanh tịnh.» (nói ba lần)[26]
Hai tỳ-kheo kia đáp: Thiện (hoặc nói: Lành thay).
Tỳ-kheo tác pháp bạch: Nhĩ.
Nếu chỉ có hai tỳ-kheo tác pháp với nhau thì chỉ nói: ‹Bạch Đại đức…› bỏ tiếng ‹hai.› Nếu chỉ có một tỳ-kheo duy nhất thì tác pháp tâm niệm thuyết giới; tự mình nói như vầy:        
 

[26] Thập tụng 22, tr.159c17, gọi trường hợp này là «tam ngữ bố-tát 三語布薩.» Mahāvagga ii., Vin. i124: tiṇṇaṃ pārisuddhi-uposathaṃ kātuṃ, Phật cho phép 3 tỳ-kheo cử hành «thanh tịnh bố-tát.»
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »