TIẾT 2. BẢN CHẤT CỦA CƯƠNG GIỚI
Như đã định nghĩa ở trên, cương giới là một khoảng đất lớn hay nhỏ tùy trường hợp, được bao quanh bởi các đường ranh mà tiếng Phạn gọi là sīma. Theo định nghĩa ấy thì bản chất của cương giới là vùng đất mà con người có thể sống sinh hoạt trên đó.
Cương giới được phân biệt thành hai loại khác nhau, là cương giới tự nhiên[4] và cương giới ấn định.[5] Tất cả mọi Tăng sự nghĩa là tất cả mọi thứ yết-ma, đều được cử hành trong phạm vi của hai cương giới đó. Nếu tại trú xứ, tức tại các chùa, các Tăng-già lam, thì Tăng sự phải được thực hiện trong phạm vi của cương giới ấn định tức tác pháp giới. Trong trường hợp xuất hành, nghĩa là một nhóm tỳ-kheo với số lượng tối thiểu từ 4 người trở lên đang đi chung với nhau, giữa đường có sự việc xảy ra cần phải được giải quyết tập thể, thì Tăng sự có thể được thực hiện trong phạm vi của cương giới tự nhiên.
1. CƯƠNG GIỚI TỰ NHIÊN
Cương giới tự nhiên hay tự nhiên giới, là những vùng đất có đường ranh tự nhiên không do sự ấn
[4] Hán: tự nhiên giới 自然界. Cf. Tứ phần hành sự sao I, Đại 40, tr.14b2. Pali: asammata-sīmā.
[5] Hán: tác pháp giới 作法界. Cf. Tứ phần hành sự sao I, Đại 40, tr.14b6. Pali: sammata-sīmā.
định qua thủ tục nghị quyết hay yết-ma. Có bốn loại cương giới tự nhiên:
i. Tụ lạc giới
Tụ lạc,[6] chỉ tất cả những nơi có nhà của dân chúng ở, gồm xóm làng, thị trấn v.v... Cương giới tụ lạc có hai hình thái khác nhau. Thứ nhất, cương giới có đường ranh rõ ràng, khiến có thể phân biệt được phạm vi bên trong và bên ngoài của tụ lạc. Thứ hai, tụ lạc không có đường ranh rõ ràng, tức những nơi mà nhà cửa của dân cư liên tiếp nhau, khiến không thể phân biệt được phạm vi của tụ lạc này chạy dài đến đâu và từ đâu trở đi thì thuộc về phạm vi của tụ lạc khác. Trường hợp này, phạm vi được qui định là rộng 21,5 khuỷu tay.[7]
[6] Pali, gāmasīma; Cf. Mahāvagga II, vn. i. tr.110: asammatāya bhkkhave sīmāya aṭṭha-pitāya, yaṃ gāmaṃ vā nigamaṃ vā upanissāya viharati, yā tassa vā gāmassa gāmasīmā nigamassa vā nigamasīmā, yaṃ tattha samānasaṃvāsā ekuposathā, «Khi một cương giới chưa được thỏa thuận, chưa được ấn định, thì bất cứ một tụ lạc, một thị trấn mà tỳ-kheo nương vào đó; tụ lạc ấy là cương giới tụ lạc, thị trấn ấy là cương giới thị trấn. Trong phạm vi đó là đồng nhất trú xứ, đồng nhất thuyết giới.»
[7] Ma-ha Tăng kỳ luật 8 (Đại 22, tr.298b13): «Ưu Ba Ly hỏi Phật, ở những nơi mà giới hạn của thành ấp, tụ lạc không thể phân biệt, thì trong khoảng phạm vi nào có thể tác yết-ma, khiến các nhóm Tăng khác trông thấy nhau nhưng yết-ma vẫn thành tựu mà không phạm lỗi biệt chúng? Phật nói: 5 khuỷu là 1 cung, 7 cung là khoảng cách để trồng 1 cây xoài, trong phạm vi 7 cây xoài có thể tác yết-ma.» Hành sự sao I (Đại 40, tr.7a19), trong phạm vi 7 cây tức có 6 khoảng = 21 khuỷu (= 63 bộ). Cf. Pali, Mahāvagga II, Vn.i. tr.111: agāmake
ii. A-lan-nhã giới
A-lan-nhã, tiếng Phạn là aranya, Hán dịch là vô sự xứ hay không nhàn,[8] chỉ các khu rừng vắng hay những nơi không có dân cư. Cương giới a-lan-nhã cũng có hai, là nơi nguy hiểm vì có các loại thú dữ, và nơi không nguy hiểm tức không có thú dữ. Tại những nơi a-lan-nhã không nguy hiểm thì cương giới được qui định là rộng một câu-lô-xá,[9] ước tính theo khoảng cách mà tiếng kêu có thể nghe được. Trong vòng cương giới tự nhiên được qui định đó phải là không có vị Tăng nào hay chùa nào (chùa có Tăng). Cương giới a-lan-nhã có sự nguy hiểm được qui định
ce...araññe samantā sattabbhantarā ayaṃ tattha samānasaṃvāsā ekuposathā, «Nếu tỳ-kheo sống ở nơi không phải là tụ lạc, rừng vắng, thì trong phạm vi bảy abbhantara là giới hạn đồng nhất trú xứ, đồng nhất thuyết giới.» Giải thích của Mahāvagga-ṭṭhakathā (Vn.5.v. tr.1050): tattha ekaṃ abbhantaraṃ aṭṭhavīsatihatthappamāsaṃ hoti, ở đây, 1 abbhantara bằng 28 hattha (tay). 1 hattha Pāli tức 1 hasta Skt. = 24 aṅgula.
[8] Skt. aranya (Pali. arañña); Hán: a-lan-nhã 阿蘭若, nhàn tĩnh xứ 閑靜處, vô sự xứ 無事處, không nhàn 空閑. Cf. Ma-đắc-lặc-già 3 (Đại 23, tr.580b3): «Giới a-lan-nhã, trong phạm vi 1 câu-lô-xá.» Hành sự sao I (Đại 40, tr.7a23): «Về giới a-lan-nhã, các bộ không nhất định. Phần lớn tính là 1 câu-lô-xá.» Xem cht. 9 dưới. Thiện kiến luật 17 (Đại 24, tr.794b9) : «Giới a-bàn-đà-la (Pl. abbhantara) tức là giới a-lan-nhã.» Theo đó (tr.793b4), giới a-lan-nhã, cực nhỏ, vuông vức bảy a-bàn-đà-la (Pali: abbhantara). 1 a-bàn-đà-la = 28 khủyu.; xem cht. 6 trên.
[9] Hán: câu-lô-xá 拘盧舍; Skt. krośa. Có hai cách tính một câu-lô-xá: bằng 4000 khuỷu tức khoảng 1800m, hoặc bằng 8000 khuỷu tức khoảng 3600m. Đây nói theo cách tính thứ nhất.