Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Yết - Ma Yếu Chỉ

Yết - Ma Yếu Chỉ

Tác giả: Giảng thuật: Thích Trí Thủ, Biên soạn:Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh, Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng. Dịch giả: Thích Trí Thủ. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 360.

Chương 28: Tiết 3: Xả và thọ y bát, 1. Ba y (Trang 163 - 166)

TIẾT 3:
XẢ VÀ THỌ Y BÁT
Việc xả y bát cũ, thọ y bát mới là một tiết mục trong sự hành trì nghi thức thọ giới.[93] Nó có thể được nói trong mục thọ giới ở trên. Nhưng ở đây được nói thành mục riêng vì tầm mức quan trọng của nó.
Y và bát là vật dụng tùy thân của một tỳ-kheo, là phương tiện để sinh sống đúng theo bốn thánh chủng, cho đến, đây cũng là tín hiệu truyền thừa trong thánh chủng.[94] Vị tân tỳ-kheo, sau khi đã đắc giới cụ túc, phận sự đầu tiên phải biết các cách thức xả và thọ. Phận sự này không phải chỉ được thực hiện một lần sau khi mới đắc giới, mà là phận sự phải thực hiện trọn đời. Do đó, ngay sau khi thọ giới, thì giới sư hoặc Hòa thượng, hay vị có trách nhiệm giáo dục và hướng dẫn tân tỳ-kheo trên đường tu tập, phải chỉ bảo tường tận.
1. BA Y
Theo Phật chế, một tỳ-kheo phải có đủ ba y và một bình bát.[95] Chỉ ba y và một bình bát chứ không được
 

[93] Tứ phần 34, tr.811c:15: Phật quy đinh, người không có y bát, không cho phép thọ cụ túc
[94] Tăng kỳ 38, Đại 22, tr.528a 26: «Y của Sa-môn, là tiêu chí (=tín hiệu) của Hiền Thánh.»
[95] Tát-bà-đa 4, Đại 23, tr.527b15: «Sở dĩ y có ba tên gọi khác nhau, là để thể hiện pháp vị tằng hữu.»
 
có nhiều hơn.[96] Nhưng vấn đề y phục có những quan hệ chặt chẽ với phong tục tập quán của mỗi nước. Do vậy, trên thực tế, trong sinh hoạt thường nhật của người xuất gia, vấn đề y phục đã có một số đổi khác ở Trung quốc, so với truyền thừa từ Ấn độ, và ngay trong những nước chịu ảnh hưởng văn minh Trung quốc, như nước ta và nước Nhật bản, cũng đã có thêm những điều khác biệt so với Trung quốc. Do vậy, trên nguyên tắc luật định, một tỳ-kheo chỉ có được ba y, nhưng trên thực tế nước ta, ngoài ba y theo luật ấn định ấy còn có y phục thường nhật khác nữa và ba y theo luật định trở thành lễ phục.
Ba y mà Phật chế[97] gồm có: 1. An-đà-hội, tiếng Phạn là antarvāsa, nghĩa là y trong hay y dưới; 2. Uất-đà-la-tăng, tiếng Phạn là uttarasaṅgha, y khoác vai. Hán dịch là thượng y; 3. Tăng-già-lê, tiếng Phạn, saṅghātī, nghĩa là y có hai lớp, loại y trùm kín thân thể.
 

[96] Tứ phần 6, tr.601c, Ngũ phần 4, tr.23a14, Pali, Vin.iii.195: Ni-tát-kỳ 1, Phật quy định tỳ-kheo chỉ có ba y, không được nhiều hơn. Tứ phần 9, tr.622a, ni-tát-kỳ 20: tỳ-kheo chứa bát dư, ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Cf. Ngũ phần 5, tr.34c, Pali, Vin.iii.243
[97] Tứ phần 40, tr.856: Thế Tôn suy nghĩ, tỳ-kheo cất chứa bao nhiêu y được cho là đủ? Vào buổi đầu hôm, Phật ngồi tại khoảng đất trống, với một y. Nửa đêm, có cảm giác lạnh, bèn khoác thêm y thứ hai. Cho đến khuya, lại có cảm giác lạnh, bèn khoác thêm y thứ ba. Theo đó, Thế Tôn quy định ba y để tỳ-kheo đủ chống lạnh. Cf. Mahāvagga viii. Vin.i.288.
 
Về kích thước mẫu y an-đà-hội được qui định là chiều cao hai khuỷu tay, khoảng một mét; chiều ngang 4 khuỷu tay, khoảng 2 mét. Về mẫu y uất-đa-la-tăng, cao ba khuỷu tay khoảng 1,5 mét, và rộng 5 khuỷu tay, khoảng 2,5 mét. Mẫu tăng-già-lê cũng vậy. Tuy nhiên, luật cũng nói rằng dài hay rộng tùy theo tầm thước của mỗi người.[98] Hoặc theo chuẩn khác, mẫu trung bình là ba và năm khuỷu. Mẫu y lớn nhất, cao 3 khuỷu rưỡi, dài 6 khuỷu.[99]
Nếu là y mới thì an-đà-hội và uất-đa-la-tăng may một lớp; tăng-già-lê có hai lớp. Nếu là y cũ, thì an-đà-hội và uất-đa-la-tăng có hai lớp, tăng-già-lê có 4 lớp.[100]
Về cách may, vải may y phải được rọc thành miếng[101] rồi ráp lại như thửa ruộng, để tiêu biểu cho ruộng phước.[102] Người khoác y như vậy là người gìn giữ ruộng phước cho trời và người có thể gieo trồng hạt giống phước thiện vào đó. Về hình thức thửa
 

[98] Theo Tứ phần 41, tr.863a13.
[99] Tát-bà-đa 4. tr.527b26. Cf. Hành sự sao 9, tr.105c23.
[100] Cf. Mahāvagga viii. Vin.i.290.
[101] Tứ phần 40, tr.855b4: «... dùng dao cắt rọc, thành y của sa-môn, sẽ không bị giặc cướp trấn lột.» Cf. Mahāvagga viii. Vin.i.287: chinnakaṃ bhavissati, satthalūkhaṃ samaṇa-sāruppaṃ paccatthikānañ ca anabhicchitaṃ. (vải) cắt rọc được ráp lại, thích hợp cho sa-môn, sẽ không bị kẻ địch tham cầu.
[102] Tứ phần 40, tr.855a 19: Phật ra ngoài thành Vương xá, đi về phía nam. Nhìn những thửa ruộng, Phật chỉ cho A-nan và bảo hãy hướng dẫn tỳ-kheo may y như vậy. Cf. Mahāvagga viii. Vin. i. tr.287.
 
ruộng, chiều ngang nếu có 5 khoảng thì gọi là y năm điều, 7 khoảng thì gọi là y bảy điều, cho đến 25 khoảng. Ít nhất là 5 khoảng, và nhiều nhất là 25 điều. Chỉ chia khoảng theo số lẻ chứ không bao giờ chia theo số chẵn.[103] Còn theo chiều đứng, nếu y năm điều, thì gồm một khoảng dài và một khoảng ngắn. Từ 7 đến 13 điều gồm 2 dài 1 ngắn. Từ 15 đến 19 gồm 3 dài 1 ngắn. Từ 21 đến 25 gồm 4 dài 1 ngắn. Cách chia khoảng không ảnh hưởng đến tên gọi của y, nghĩa là gọi uất-đà-la-tăng hay tăng-già-lê tùy theo chiều kích, lớp vải, và công dụng chứ không tùy theo các điều. Tuy nhiên, theo thông dụng, y an-đà-hội có 5 điều và do đó cũng thường gọi là y ngũ; uất-đà-la-tăng gồm 7 điều và thường gọi là y thất.[104] Tăng-già-lê có ba bậc, từ 9 đến 13 điều là bậc hạ, từ 15 đến 19 là bậc trung, và từ 21 đến 25 là bậc thượng.[105]
Theo phép, nếu y đã cũ không muốn dùng nữa thì phải làm phép xả,[106] và y mới phải làm phép thọ trước khi dùng. Thọ là xác nhận nó thuộc sở hữu riêng của mình, và xả là tuyên bố nó không còn thuộc sở hữu của mình nữa.
 

[103] Tứ phần 40, tr.855b.
[104] Hành sự sao 9, tr.105a 29: «Trong Luật không có các tên ngũ, thất, cửu; mà chỉ gọi là an-đà-hội cho đến tăng-già-lê.»
[105] Tát-bà-đa 4, tr.527b17: hạ tăng-già-lê, 2 dài 1 ngắn; trung tăng-già-lê, 3 dài 1 ngắn; thượng tăng-già-lê, 4 dài 1 ngắn. Nếu khác đi, phạm đột-kiết-la.
[106] Ngũ phần 21, tr.143b25: Tỳ-kheo không xả 3 y cũ mà thọ y mới, đột-kiết-la.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »