CHƯƠNG HAI
CƯƠNG GIỚI
TIẾT 1.
Ý NGHĨA VÀ TẦM QUAN TRỌNG
CỦA CƯƠNG GIỚI
1. Ý NGHĨA CỦA CƯƠNG GIỚI
Tiếng Phạn nói là sīma,[1] có nghĩa là biên giới, biên thùy hay đường ranh phân chia hai khu vực khác nhau, như đường ranh phân chia giới hạn lãnh thổ của hai nước ở sát nhau chẳng hạn. Trong Hán văn, nó thường được nói gọn là giới. Ở đây chúng ta dùng từ cương giới, trong ý nghĩa thường dùng là giới hạn của lãnh thổ, hay biên cương, để chỉ khu vực hay môi trường sống chung hòa hiệp và các sinh hoạt tập thể của Tăng-già, được qui định bởi các đường ranh bao quanh theo sự chấp thuận tuyệt đối của Tăng đoàn qua những thủ tục yết-ma.
Những tỳ-kheo được sống trong khu vực giới hạn bởi các đường ranh này tạo thành một cộng đồng Tăng lữ riêng biệt; họ phải chấp hành các nghĩa vụ
[1] Tứ phần hành sự sao tư trì ký I. Đại 40, tr.202b6: «Theo Minh liễu luận sớ giải, vốn âm là tứ-ma 四摩; đây (Trung quốc) nói là biệt trú. Nghĩa là, tác pháp ở trú xứ này cùng với các trú xứ khác không tương thông.» Hán: giới 界. Skt. sīman; Pl. sīmā, Cf. Mahāvagga II, Vn. i. tr.105.
tính cách tập trung rộng lớn được chia nhỏ thành nhiều cộng đồng địa phương khác nhau. Hệ thống tổ chức Tăng đoàn của đức Phật dựa trên nguyên tắc dân chủ không tập quyền, do đó các Tăng đoàn địa phương sống và sinh hoạt như những cộng đồng tự trị, không bị chi phối bởi một cộng đồng trung ương tối cao nào cả. Tuy nhiên, đời sống của một tỳ-kheo là đời sống không gia đình, đi hay ở đâu tùy sở thích, tùy nhu cầu hành đạo và hóa đạo riêng biệt của mình, chứ không bị buộc chặt vào bất cứ một cộng đồng nào, vì vậy một tỳ-kheo trong giờ trước đang ở tại cương giới này thì thuộc về cộng đồng Tăng lữ này nhưng trong giờ sau vị ấy bước qua cương giới khác thì đã là thành viên của cộng đồng Tăng lữ đó và phải chấp hành các nghĩa vụ cũng như hưởng thọ các quyền lợi ở cộng đồng đó. Do tính cách di động này mà mặc dù Tăng đoàn được chia nhỏ thành nhiều cộng đồng địa phương khác nhau với những sinh hoạt tự trị khác nhau không có trung ương chi phối, nhưng tất cả đều sinh hoạt nhịp nhàng theo những qui tắc chung, khiến một tỳ-kheo từ nơi này
Đường xa, tụ tập rất mệt nhọc. Do đó, Phật cho phép tỳ-kheo tại địa phương nào thì thuyết giới tại đó. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kỷ I (Đại 40, tr, 203a13): 8 năm sau ngày thành đạo Phật chế yết-ma thọ cụ túc; 12 năm sau ngày thành đạo Phật khiến các tỳ-kheo thuyết giới, và do đây lần đầu tiên ấn định việc kết giới. Tham chiếu Pali, Mahāvagga, Vn. i. tr.106: ...bhikkūnaṃ etad ahosi, «Bhagavatā paññattaṃ ettāvatā samaggī yāvatā ekāvāso’ti, kittāvatā nu kho ekāvāso hoti.» Bhagavato etamatthaṃ ārocetuṃ: «anujānāmi bhikkhave sīmaṃ sammannituṃ.»