Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Yết - Ma Yếu Chỉ

Yết - Ma Yếu Chỉ

Tác giả: Giảng thuật: Thích Trí Thủ, Biên soạn:Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh, Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng. Dịch giả: Thích Trí Thủ. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 360.

Chương 59: Chương Bảy: Ca -Thi- Na, 1. Duyên khởi và ý nghĩa (Trang 299 - 303)

CHƯƠNG BẢY
CA THI NA
1. DUYÊN KHỞI VÀ Ý NGHĨA  
Khi mùa an cư vừa hết, một số các tỳ-kheo, suốt trong ba tháng không được diện kiến đức Thế Tôn, rất nôn nóng muốn được gặp gỡ Ngài. Do đó, ngay sau ngày tự tứ, họ cùng lên đường đi về Xá-vệ, nơi đức Thế Tôn cũng vừa trải qua ba tháng an cư mùa mưa. Mặc dù bấy giờ mưa dầm, đường xá lầy lội, nhưng họ vẫn dầm mưa mà đi. Mưa dầm khiến cho ba y của họ ướt sũng, trở thành nặng nề, thêm vào đó đường sá lầy lội do hậu quả của mưa, cho nên, khi đến nơi, tất cả đều ẩm ướt và mệt mỏi. Sau khi trao đổi những lời hỏi thăm thông thường, đức Thế tôn nhận thấy rõ tình trạng của tỳ-kheo ấy, Ngài tuyên bố từ đây trở đi cho phép các tỳ-kheo sau khi an cư xong được thọ y ca-thi-na.[1] Thọ y ca-thi-na có năm điều lợi ích:
1. Ngoài ba y, tỳ-kheo được phép cất y dư quá mười ngày mà không cần làm phép tịnh thí.[2]
 

[1] Tứ phần 43, «Ca-thi-na y kiền độ.» Đại 22, tr.877ctt.; Ngũ phần 23, tr.253b.; Tăng kỳ 28, tr.452a.
[2] Ni-tát-kỳ ba-dật-đề thứ nhất: Súc trường y 畜長衣. các bộ luật bộ giống nhau. Pali, nissaggiya 1: atirekacīvaraṃ.
 
2. Được phép ly y túc, nghĩa là không cần phải mang theo mình đủ cả ba y đi bất cứ đâu, không phạm điều luật lìa y cách đêm.[3]
3. Được triển chuyển thực, nghĩa là được phép thọ thực nhiều lần tại nhiều nhà đàn việt khác nhau miễn không quá ngọ.[4]
4. Được biệt chúng thực, nghĩa là được phép thọ thực thành nhóm từ bốn người trở lên.[5]
5. Trước hay say bữa ăn, tách riêng đi vào xóm, không cần báo cho các tỳ-kheo biết.[6]
Năm điều lợi này là những sự nới rộng một số các điều khoản ni-tát-kỳ ba-dật-đề và ba-dật-đề, để các tỳ-kheo dễ dàng trong việc cất và sắm y mới thay cho các y cũ đã rách, hoặc dễ dàng trong việc đi lại thăm viếng sau ba tháng an cư mùa mưa.
Tất cả các Luật bộ đều đồng nhất về duyên khởi của y ca-thi-na như trên. Riêng luật Ngũ phần[7] thêm một nguyên nhân khác, trưởng lão A-na-luật có ba y đều rách nát nhưng không thể sắm được y mới vì Phật không cho phép cất chứa vải dư nhiều ngày, và tự
 

[3] Ni-tát-kỳ ba-dật-đề thứ hai: Ly y túc 離衣宿. Các luật bộ giống nhau. Pali, nissaggiya 2: ticīvaraṃ vippavaseyya.
[4] Tứ phần ba-dật-đề thứ 32: Triển chuyển thực 展轉食; Ngũ phần, ba-dật-đề 31: sác sác thực 數數食. Luật Pàli thay điều lợi này cho ni-tát-kỳ ba-dật-đề thứ ba: được cất chứa vải một tháng (nissaggiya 3: akālacīvaraṃ).
[5] Tứ phần, ba-dật-đề 33. Pali. Pā 32: gaṇabhojane.
[6] Tứ phần, ba-dật-đề 42. Pali, Pā 46.
[7] Ngũ phần 22, Đại 22, tr.153a19.
 
 mình không thể may y xong trong một ngày. Do cả hai nguyên nhân thư thế, Phật cho phép các tỳ-kheo thọ y ca-thi-na ngay sau ngày tự tứ với năm điều lợi ích của ca-thi-na như đã kể.
Trường hợp Trưởng lão A-na-luật mà Ngũ phần đề cập cũng được thấy nói trong Trung A-hàm,[8] với một ít chi tiết khác biệt. Theo đó, Trưởng lão nói với Tôn giả A-nan rằng cả ba y của mình đã rách nát cả, muốn nhờ A-nan thỉnh hộ các tỳ-kheo may giúp y. Cố nhiên là cần may xong nội trong ngày. Tôn giả A-nan sau buổi trưa, đến phòng các tỳ-kheo trong tịnh xá để yêu cầu họ đi may hộ y cho trưởng lão A-na-luật. Biết được điều này, đức Phật hỏi sao A-nan không thỉnh Như Lai cùng đi may hộ y. A-nan bèn cung thỉnh và Phật chấp nhận. Khi đến địa điểm làm y, Phật nói với Trưởng lão Mục-kiền-liên rằng: «Như Lai có thể là người trương hộ y cho A-na-luật.» Trưởng lão Mục-kiền-liên bèn thỉnh Phật làm người trương y. Bấy giờ, đức Phật cùng với 800 tỳ-kheo đồng làm y hộ cho A-na-luật. Cả ba y đều được làm xong nội trong ngày. Khi các y đã xong, Phật gấp tư Tăng-già-lê của Ngài để nghỉ, và bảo Trưởng lão A-na-luật giảng giải cho các tỳ-kheo về các công đức của y ca-thi-na. Nội dung bài giảng của Trưởng lão

 
 

[8] Trung A-hàm 19, ‹Ca-si-na kinh›, Đại 1, tr.551c; không tìm thấy Pàli tương đương. Thiện kiến 18 (Đại 24, tr.796a) có dẫn chuyện Phật Liên Hoa cùng 1600 tỳ-kheo may y cho vị đại đệ tử của Người là Tu-xà-đa. Có lẽ muốn nói đến Sujata đại đệ tử của Phật Padumttora, Buddhavaṃsa xi 24, bản sớ giải 159.
 
 A-na-luật bao gồm các quá trình tu tập và chứng đắc Niết-bàn của một tỳ-kheo, kể từ sơ khởi lìa bỏ gia đình, qua các giai đoạn trì giới, tu tập thiền định, chứng đắc các thần thông, thành tựu trí tuệ vô lậu, cho đến cuối cùng chứng đắc A-la-hán. Phần cuối bài giảng, Trưởng lão tán thán sự trì giới, là những nấc thang căn bản để bước lên cái bực cao của thiền định và trí tuệ. Trọn bài giảng này không đề cập cụ thể đến ca-thi-na, không định nghĩa hay mô tả thế nào là ca-thi-na. Nhưng ý nghĩa này có thể tìm thấy trong đoạn ấn chứng của Phật. Sau khi Trưởng lão giảng xong, đức Phật ngồi trở dậy, tán thán bài giảng của Trưởng lão. Rồi Ngài khuyên bảo các tỳ-kheo nên thọ trì y ca-thi-na, và Ngài kết luận: Trong quá khứ, trong hiện tại và tương lai, chưa có ai được như Trưởng lão A-na-luật, đó là chính đích thân Như Lai cùng với 800 tỳ-kheo đồng làm hộ cho ba y.
Qua đoạn kinh, mặc dù y ca-thi-na được đề cập gián tiếp, nhưng ý nghĩa rõ ràng là thế này: Ca-thi-na là y mà các tỳ-kheo cùng hợp tác làm chung cho một tỳ-kheo, như là biểu lộ sự xác nhận và ngưỡng mộ những thành tựu thù thắng mà tỳ-kheo ấy đạt được trong đời sống phạm hạnh. Đây có lẽ là ý nghĩa nguyên thủy nhất của ca-thi-na. Đoạn kinh của Trung A hàm đang đề cập cũng cho biết cách thức nguyên thủy của việc làm y ca-thi-na, việc Trưởng lão Mục-kiền-liên thỉnh Phật làm người trương y, trong văn của Luật tạng, trở thành việc yết-ma Tăng sai người trương y ca-thi-na.
Nói tóm lại, theo ý nghĩa vừa nói, ca-thi-na có thể được gọi một cách đứng đắn là y công đức. Nhưng trong Luật tạng, ý nghĩa công đức của nó hoàn toàn không nhắm đến trường hợp như Trưởng lão A-na-luật, mà nhắm vào năm điều lợi đã nêu. Như vậy, rõ ràng có những bước phát triển về ca-thi-na từ Kinh tạng đến Luật tạng trong đó phải kể hình thức được nói trong Kinh tạng là nguyên thủy nhất.
Trên đây là nói về ý nghĩa của ca-thi-na xét theo nội dung. Về mặt từ nghĩa, ca-thi-na là phiên âm từ kathina của tiếng Phạn; cùng phiên âm là kiết-sĩ-na. Nguyên kaṭhina trong tiếng Phạn có nghĩa đen là thô cứng, khó khăn. Hành sự sao, quyển thượng,[9] nêu năm dịch ngữ và giải thích: kiên thật, cứng chắc, vì sắm được nhiều y, y không bại hoại.[10] Đây muốn chỉ điều lợi là cất chứa dư mà không phạm xả đọa. Tức hiểu nghĩa thô cứng trong tiếng Phạn theo nghĩa bóng. Dịch ngữ thứ hai là nan hoạt,[11] sinh hoạt khó khăn, vì sự kiếm sống của người nghèo rất gian nan, nhưng bỏ một ít tài sản vào y này, thì công đức thù thắng như đem cả một tấm y lớn bằng núi Tu di mà bố thí. Đây là giải thích nghĩa khó khăn của tiếng Phạn theo nghĩa bóng. Hoặc cũng dịch kiên cố, ý
 

[9] Hành sự sao, thượng 4, lời chú (Đại 40, tr.44c); xem thêm Hành sự sao tư trì ký, thượng 4 (Đại 40, tr.250a).
[10] Luật nhiếp 5 (Đại 24, tr.553a19): ca-si-na 迦絺那 có nghĩa là kiên thật tinh diệu 堅實精妙 vì do sự xả và trì y của đại chúng, nó có khả năng đảm trách các vi phạm.
[11] Nan hoạt 難活, bản khác chép là nan trị 難治: trị và hoạt tự dạng gần giống nhau.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »