Ý nghĩa của việc thọ sa-di-ni và ngoại đạo cộng trú cũng giống như những điều đã được nói trong phần thuộc Tăng ở trên. Các nghi thức tác pháp yết-ma cũng giống nhau, duy thêm chữ "ni" vào những từ xưng hô cần thiết để phân biệt.
3. THỌ THỨC-XOA-MA-NA
a. Sáu học pháp
Tiếng Phạn nói śikṣamānā,[3] Hán âm là thức-xoa-ma-na hay thức-xoa-ma-na ni, và dịch là chánh học, nghĩa là người nữ đang học tập các học xứ của tỳ-kheo-ni.
Nguyên tắc cơ bản là sa-di-ni trước khi thọ cụ túc để thành tỳ-kheo-ni phải có hai năm học giới. Học giới ở đây là học tập tất cả các học xứ của tỳ-kheo-ni, từ tám pháp ba-la-di cho đến các pháp chúng học.[4] Chỉ được phép học tập các giới tướng và các hình thái phạm hay không phạm, chứ không được nghe tỳ-kheo-ni thuyết giới. Trong các học xứ này, có sáu điều được trích là sáu học pháp đặc biệt. Sáu học pháp này gồm:
Không sát sinh;
Không trộm cắp;
[3] Pali: sikkhamānā; Hán: thức-xoa-ma-na 式叉摩那, chánh học 正學.
[4] Hành sự sao 12, tr.155a, chia làm ba phần học: 1. Học căn bản, gồm bốn ba-la-di; 2. Học sáu pháp; 3. Học hành pháp, gồm tất cả giới của đại ni.
Không dâm dục;
Không nói dối;
Không uống rượu;
Không ăn phi thời.5]
Bốn học pháp đầu được phân biệt thành hai trường hợp khác nhau. Trường hợp thứ nhất, trường hợp nghiêm trọng, tương đương với bốn ba-la-di đầu của tỳ-kheo-ni, nếu phạm phải bị diệt tẫn. Ngoài ra, nếu giết hại súc vật, ăn cắp dưới mức tội ba-la-di, bốn ba-la-di cuối của tỳ-kheo-ni, nói dối dưới mức tội ba-la-di, uống rượu và ăn phi thời; nếu phạm các điều này mà bị phát hiện, hay tự mình phát lồ trong ngày nào, thì ngay ngày đó phải thọ lại từ đầu, và lấy đây làm mốc cho hai năm học giới, còn thời gian trước khi phạm hoàn toàn xóa bỏ.
Ngoài sáu học pháp chính trên, còn có các học pháp phụ khác gọi là mười tám tùy pháp.[6] Chi tiết các điều
[5] Sáu học pháp của thức-xoa-ma-na, các luật bộ đại để tương đồng. Riêng Căn bản thuyết hữu bộ, có nội dung khác hẳn: 1. Không được đi đường một mình; 2. Không được lội sông một mình; 3. Không được đụng chạm thân thể đàn ông; 4. Không được ngủ chung nhà với đàn ông; 5. Không được làm mai dong; 6. Không được che dấu trọng tội của ni và thêm sáu tùy pháp: 1. Không được cất giữ vàng bạc làm của riêng; 2. Không được cạo lông chỗ kín; 3. Không được đào xới đất nơi mà cây cối có thể mọc; 4. Không được cố ý nhổ cây cỏ còn sống; 5. Không được ăn đồ ăn mà người không mời; 6. Không được ăn đồ ăn đã được người khác đụng đến. Căn bản ni 18 (Đại 23, tr.1005a2). Cf. Pali, Bhikkhunivibhaṅga, Pā. 63, Vin.iv. 319.
này, hãy xem trong ni luật, ở đây không cần thiết phải nêu rõ.
Nói vắn tắt, về sáu học pháp, trừ những trường hợp thuộc vào bốn ba-la-di đầu của luật ni thì bị diệt tẫn, còn lại nếu phạm thì bị coi là khuyết giới và phải thọ học giới lại từ đầu. Ngoài ra, các học xứ của ni, từ Tăng tàn trở xuống, nếu vi phạm, thảy đều được phép sám hối.
b. Thập tuế tằng giá
Về hạn tuổi để thọ thức-xoa-ma-na, theo luật Tứ phần[7] mà văn Hán dịch có thể nói như sau: «Thập tuế tằng giá, thập bát đồng nữ, các nhị tuế học giới.»[8] Về câu văn: «Thập bát đồng nữ» thì ý nghĩa đã rõ ràng. Đó là đồng nữ mười tám tuổi, tức con gái chưa chồng, đến tuổi mười tám.[9] Nhưng câu văn: «Thập
[6] Tăng kỳ 39, Đại 22, tr.535att.
[7] Tứ phần 28 (Đại 22, tr.759a), ni luật, ba-dật-đề điều 125, nguyên văn Hán dịch: Nhược tỳ-kheo-ni độ tằng giá nữ niên thập tuế, dữ nhị tuế học giới, niên mãn thập nhị thính dữ thọ cụ túc giới; nhược giảm thập nhị dữ thọ cụ túc giới giả ba dật đề 若比丘尼度曾嫁女年十歲 與二歲學戒 年滿十二聽與受 具足戒若減十二 與受具足戒者 波逸提. Pali, Bhikkhuni-vibhaṅga, Pā. 65, Vin. iv. 322: yā pana bhikkhunī ūnadvādasa-vassaṃ gihigataṃ vuṭṭhāpeyya pācittiyaṃ, tỳ-kheo-ni độ người nữ đã có chồng dưới 12 tuổi, ba-dật-đề.
[8] Thập tuế tằng giá, thập bát đồng nữ, các nhị tuế học giới 十歲曾嫁 十八童女各二歲學戒
[9] Đồng nữ 童女; Pali: kumārī, thiếu nữ chưa chồng. Bhikkhunivibhaṅga, Pā 72, Vin. 328: yā pana bhikkhunī pari-puṇṇavīsativassaṃ kumāribhūtaṃ ve vassāni chasu dhammesu asikkhitasikkhaṃ vuṭṭhāpeyya pācittiyam, tỳ-kheo-ni độ xuất
tuế tằng giá»[10] gây nên một số khó khăn. Không phải vì câu văn tối. Vì theo nghĩa đen, rõ ràng nói: «mười tuổi đã có chồng.» Nhưng một số các luật sư ở nước ta,[11] căn cứ theo phong tục hôn nhân, cho rằng không thể có trường hợp con gái mười tuổi đã có chồng. Cho nên câu văn dịch của Tứ phần được hiểu là người nữ đã có chồng, nhưng đã thôi chồng mười năm, sau khi đủ mười năm như vậy mới được phép thọ hai năm học giới.[12]
Căn cứ theo các văn dịch trong các Quảng luật, Ngũ phần nói: «Thập nhị tuế dĩ giá nữ»[13] và nói thêm: «nhi nữ ngu ám, vô tri, bất kham học giới.»[14] Theo nội dung từng đoạn cần phải hiểu câu văn này nói rằng: «con gái mười hai tuổi đã có chồng, nhưng ngu si, không hiểu biết, không kham học giới.»
gia thiếu nữ đã 20 tuổi nhưng không cho 2 năm học giới, ba-dật-đề.
[10] Pali: ūnadvādasavassaṃ gihigataṃ, đã làm vợ gia chủ, dưới 12 tuổi.
[11] Khoảng 1930, tại Huế, một bà chồng chết, xin xuất gia. Sơn môn nghị luận, chỉ được phép thọ thọ cụ túc 12 năm sau ngày chồng chết.
[12] Yết-ma chỉ nam 3 chống đối thuyết tảo hôn, cho rằng thập tuế tằng giá 十歲曾嫁 không chỉ cho năm sanh mà chỉ cho mười năm đã lấy chồng, và giải thích: vị sơ kinh phối hợp, khủng bỉ dâm tâm nan đoạn cố 謂初經配合恐彼淫心難斷故, «vì rằng mới trải qua sự phối hợp sợ dâm tâm của người đó khó đoạn trừ.» Tham chiếu các bộ luật Ngũ phần 13 (Đại 22, tr.91a) Tăng kỳ 39 (Đại 22, tr.525). Căn bản ni 18 (Đại 23. Tr.1004c).
[13] 十二歲已嫁女, Ngũ phần 13, tr.91a.
[14] 而女愚闇無知不堪學戒, Ngũ phần 13, ibid.
Luật Ma ha Tăng kỳ nói: «thích tha phụ giảm thập nhị vũ,»[15] nghĩa đen là: đã làm vợ người khác, chưa đầy 20 tuổi. Nói là vũ (mùa mưa) thay vì nói là niên (năm) hay tuế (tuổi), vì theo lịch pháp Ấn độ tính năm và tuổi theo mùa mưa. Trong đoạn nói về học giới nữ này, luật Ma ha Tăng kỳ có giải thích đại cương rằng:[16] Phật trú ở Xá-vệ, lúc bấy giờ có những người nữ thuộc dòng họ Thích, dòng họ Câu-lê, dòng họ Ma-la, trước đó đã có chồng, đã từng kham nhẫn các sự khổ nhọc. Đại Ái Đạo Cù-đàm Di bạch Phật: «Người nữ đã có chồng mà chưa đủ hai mượi tuổi,[17] có thể thọ cụ túc được không?» Phật cho phép được. Nhưng người nữ tám hay chín tuổi, dù đã có chồng[18] thì không được. Và giải thích sau đây cần nhấn mạnh: với số tuổi này, còn quá nhỏ, quá yếu đuối, không kham nổi sự khổ.[19] Theo giải thích như vậy, rõ ràng câu văn: «thích tha phụ giảm thập nhị vũ,» chính xác phải hiểu là: chưa đầy mười hai tuổi nhưng đã từng làm vợ người khác.
Về vấn đề này, luật Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ bí-sô-ni tỳ-nại-gia nói:[20] sau khi dòng họ Thích bị
[15] 適他婦減十二雨, Tăng kỳ 39, tr.535c.
[17] Giảm nhị thập vũ 減二十雨, phụ nữ đã có chồng, tuy chưa đầy 20 tuổi, vẫn có thể được thọ tỳ-kheo-ni; trong khi thiếu nữ chưa chồng phải đủ 20 tuổi. Tăng kỳ 39, ibid.
[18] Tằng giá bát tuế cửu tuế nữ 曾嫁八歲九歲女, Tăng kỳ 39, ibid.
[19] Hán: thái tiểu, nhuyển nhược bất kham khổ sự 太小軟弱不堪苦事, Tăng kỳ 39, ibid.
[20] Căn bản ni 18, Đại 23, tr.1004c.
vua Tỳ-lưu-ly tàn sát, một số Thích nữ không nơi nương tựa, bèn được cho xuất gia. Những người này cầu thọ cụ túc. Nhưng các trưởng lão ni nói, Phật chế, chưa đủ hai mươi tuổi, không được phép thọ cụ túc, vì chưa đủ khả năng để phụng sự Hòa thượng, A-xà-lê-ni. Các người nữ này nói: «Chúng con khi tại gia đã từng thờ chồng. Các doanh nghiệp còn có thể đảm đương được, huống gì nay là sự hầu hạ Hòa thượng, A-xà-lê-ni, mà không làm nổi.» Các trưởng lão ni bạch Phật. Phật cho phép, người nữ đã có chồng đủ 12 tuổi[21] cho hai năm học giới rồi cho thọ cụ túc.
Theo các Quảng luật được dẫn trên, Tứ phần nói là «thập tuế tằng giá,» đây ấn dịnh tuổi nhỏ nhất có thể thọ thức-xoa-ma-na. Như vây, tuổi nhỏ nhất có thể thọ tỳ-kheo-ni là 12.[22] Trong các luật khác, nói là «thập nhị tuế tằng giá,» đây chỉ tuổi nhỏ nhất có thể thọ tỳ-kheo-ni. Số 10 hay số 12, là theo phong tục mỗi địa phương quan niệm về số tuổi thấp nhất cho con gái trưởng thành. Tuy vậy, về nội dung giải thích tại sao có con số tuổi này, các luật đại khái nói như nhau: dưới số tuổi đó quá nhỏ, yếu đuối, còn ngu dại. Đây là số tuổi thấp nhất qui định sự trưởng thành về thể chất cũng như tinh thần của người nữ. Đương nhiên, sự qui định như vậy bị hạn chế theo phong tục địa
[21] Hán: tằng giá nữ, niên mãn thập nhị 增嫁女年滿十二. Căn bản ni 18, ibid.
[22] Tứ phần 48, Đại 22, tr.924a.
phương. Ở nước ta, con gái ít nhất 17 tuổi mới được coi là thành niên.
Như vậy, nếu giải thích rằng, «thập tuế tằng giá» trong văn Tứ phần chỉ cho người nữ này không thể được coi là quá nhỏ, yếu đuối, còn ngu dại như đã thấy từ các dẫn chứng trong các Quảng luật trên.
Tuy nhiên, ở nước ta từ xưa dù có tục tảo hôn, nhưng không với số tuổi quá nhỏ như vậy. Ngày nay thì điều đó hoàn toàn không xảy ra nữa. Vả lại, tuổi trưởng thành được qui định theo luật pháp từ xưa là 17 tuổi. Nói tóm lại, nếu là con gái chưa chồng thì tối thiểu phải 18 tuổi mới được phép thọ hai năm học giới. Nếu đã có chồng, không hạn chế số tuổi, trừ khi tuổi quá nhỏ, và nhỏ như thế nào thì tùy theo phong tục địa phương.
Về hai năm học giới, duy nhất chỉ có luật Thập tụng mới nói rằng sở dĩ như vậy để tránh trường hợp có thai mà không biết.[23] Nếu theo tinh thần các luật khác, như đã dẫn thì hai năm như vậy là cần thiết để học tập đầy đủ các học xứ của tỳ-kheo-ni, và là thời gian cần thiết để kiểm nghiệm sự hộ trì sáu học pháp đặc biệt. Sáu học pháp này, theo danh nghĩa, vốn là trong mười giới của sa-di-ni. Nhưng đây không phải trích ra sáu. Bởi vì sự thọ trì không giống như trường hợp sa-di-ni, ở chỗ, nếu vi phạm thì phải thọ lại hai năm học giới khác, cho đến khi nào liên tục trong hai năm không vi phạm điều nào trong sáu điều mới
[23] Thập tụng 45, Đại 23. tr.326b.
được thọ cụ túc. Đương nhiên trừ các trường hợp nghiêm trọng tương đương ba-la-di.
c. Văn thọ thức-xoa-ma-na
Trước khi thọ thức xoa, phải cho thọ sa-di-ni. Sa-di-ni đến trước tỳ-kheo-ni Tăng, đảnh lễ và bạch:
«Đại đức Tăng rũ lòng thương tưởng. Con sa-di-ni… nay thỉnh cầu Tăng cho hai năm học giới theo Hòa thượng ni là… ngưỡng mong Tăng cho con hai năm học giới. Cúi xin thương tưởng.» (nói ba lần)
Sau đó, lui ra khỏi giới trường, đứng ở chỗ có thể thấy nhưng không thể nghe. Bấy giờ Tăng tác pháp yết-ma cho học giới. Vị tỳ-kheo-ni yết-ma bạch:
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Sa-di-ni… kia nay thỉnh cầu Tăng cho hai năm học giới theo Hòa thượng ni là… Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận cho sa-di-ni… hai năm học giới theo Hòa thượng ni… Đây là lời tác bạch.
«Đại đức ni Tăng, xin lắng nghe. Sa-di-ni… kia thỉnh cầu Tăng cho hai năm học giới theo Hòa thượng ni là… Tăng nay cho sa-di-ni… hai năm học giới theo Hòa thượng ni là… Đại đức nào chấp thuận Tăng cho sa-di-ni… hai năm học giới với Hòa thượng ni là… thì im lặng. Ai không chấp thuận hãy nói. Đây là yết-ma lần thứ nhất.
«Đại đức ni Tăng, xin lắng nghe... (Cho đến) Đây là yết-ma lần thứ hai.
(Như trên, cho đến) Đây là yết-ma lần thứ ba.
«Tăng đã chấp thuận cho sa-di-ni… hai năm học giới theo Hòa thượng ni là… vì đã im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.»
Bạch tứ yết-ma xong, cho gọi giới tử vào giới trường để truyền sáu học pháp. Giới sư nói: (gọi pháp danh giới tử)
«… Hãy lắng nghe. Đức Như lai, bậc Chí chân, Đẳng chính giác, đã thiết lập, sáu học pháp.
«Thứ nhất. không được phạm bất tịnh hạnh, hành pháp dâm dục. Nếu thức-xoa-ma-na hành pháp dâm dục, không còn là thức-xoa-ma-na, không phải là Thích nữ nữa. Nếu đụng chạm đến thân thể một người nam có tâm nhiễm ô, giới bị khuyết, phải thọ lại. Trong điều này, ngươi phải trọn đời thọ trì, không được trái phạm
«Thứ hai, không được cố ý lấy của không cho, nhẫn đến một cọng cỏ. Nếu thức-xoa-ma-na lấy trộm năm tiền, hay vật tương đương năm tiền trở lên, tự mình lấy hay khiến người lấy, tự mình phá hoặc khiến người phá, tự mình chặt hoặc khiến người chặt, hoặc đốt, hoặc chôn, hoặc hủy mất màu sắc, thì không còn là thức-xoa-ma-na, không phải là thích nữ nữa. Nếu lấy trộm dưới năm tiền hoặc vật
tương đương dưới năm tiền, giới bị khuyết phải thọ lại. Trong điều học này, ngươi phải trọn đời thọ trì, không được trái phạm.
«Thứ ba, không được cố ý giết hại mạng sống nhẫn đến con kiến. Nếu thức-xoa-ma-na cố ý giết người, tự tay mình cầm dao giết, hay cầm dao đưa cho người khác giết, hoặc xúi dục người tự sát, ca ngợi để người tự sát, đưa thuốc độc cho người, làm trụy thai, hoặc bằng chú thuật mà giết hoặc tự mình đặt phương tiện giết hay khiến người khác làm; như thế không còn là thức-xoa-ma-na, không phải là Thích nữ nữa. Nếu cố ý giết hại mạng sống của loài vật, loài không biết biến hóa, thì giới bị khuyết, phải thọ lại. Trong điều này, ngươi phải trọn đời thọ trì, không được trái phạm.
«Thứ tư, không được cố ý nói dối, nhẫn đến nói dối mà chơi. Nếu thức-xoa-ma-na tự mình không thật sự chứng đắc mà nói rằng: "Tôi đã chứng đắc pháp thượng nhơn, đắc thiền, đắc giải thoát, đắc định, đắc bốn không định, đắc quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, trời, rồng, qủy, thần đến cúng dường tôi". Nói vậy, không còn là thức-xoa-ma-na, không phải là Thích nữ nữa. Nếu ở trong chúng mà cố ý nói dối, giới bị khuyết, phải thọ lại. Trong điều học này, ngươi phải trọn đời thọ trì, không được trái phạm.
«Thứ năm, không được ăn phi thời, nếu thức-xoa-ma-na ăn phi thời, giới bị khuyết, phải
thọ lại. Trong điều học này, ngươi phải trọn đời thọ trì, không được trái phạm.
«Thứ sáu, không được uống rượu. Nếu thức-xoa-ma-na uống rượu, giới bị khuyết, phải thọ lại. Trong điều học này, ngươi phải trọn đời thọ trì, không được trái phạm.»