Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Yết - Ma Yếu Chỉ

Yết - Ma Yếu Chỉ

Tác giả: Giảng thuật: Thích Trí Thủ, Biên soạn:Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh, Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng. Dịch giả: Thích Trí Thủ. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 360.

Chương 64: Chương Tám: Thọ dược, thuyết tịnh và phân vật, Tiết 1: Thọ Dược, 1. Các loại dược (Trang 317 - 322)

CHƯƠNG TÁM
THỌ DƯỢC, THUYẾT TỊNH VÀ PHÂN VẬT
TIẾT 1.
THỌ DƯỢC
1. CÁC LOẠI DƯỢC  
Thuốc là danh từ chỉ chung tất cả các loại đồ ăn, thức uống cùng các thứ thảo mộc mà thế gian coi là dược liệu. Đấy là hiểu theo định nghĩa cơ bản của Luật tạng. Nhưng nếu hiểu theo nghĩa phổ thông thì tất cả đồ ăn thức uống của năm chúng xuất gia đều được coi là thuốc. Luật phân chia tất cả các lọai này thành bốn,[1] theo thời gian thọ dụng chúng.[2]
i. Thời dược 
Thuốc được dùng trong thời gian chính thức. thời gian chính thức là từ sáng sớm, khi minh tướng xuất hiện, cho đến giữa trưa đứng bóng. Ngoài thời gian đó gọi là phi thời. Thời dược có hai loại chính.
Bồ-xà-ni,[3] phiên âm từ bhosanīya của tiếng Phạn,
 

[1] Ngũ phần 22, tr.147b8, bốn loại thuốc: tô 租, du 油, mật 蜜, thạch mật 石蜜. Thập tụng 26, Đại 23, tr.184c: bốn loại thuốc lỏng 含消藥, như Ngũ phần. Luật nhiếp 8, Đại 24, tr.569c2. Mahāvagga vi. 200, 5 loại thuốc: pañca bhesajjāni, sappi (bơ lỏng), navanītaṃ (bơ tươi), telaṃ (dầu), madhu (mật), phāṇitaṃ (đường phèn).
[2] Hành sự sao, hạ 2, Đại 40, tr.117c.
[3] 蒲闍尼
 
 dịch là đạm thực,[4] nghĩa đen là: ‹cái để ăn› hay ‹thưởng thức›, chỉ các vật thực chủ yếu, gồm năm thứ như bột, cơm, cơm khô, cá, thịt. Nói chung, các thứ mễ cốc và cá thịt làm món ăn chính trong các bữa ăn của người đời.[5]  
Khư-đà-ni,[6] phiên âm từ khādanīya, dịch là tước thực,[7] nghĩa đen là ‹cần phải nhai› hay ‹cần phải cắn›, chỉ các thứ trái cây, lá cây, hoặc hoa màu dùng làm thức ăn chung với mễ cốc các thứ.[8]
Nói chung, tất cả những loại thực phẩm, những thứ dùng để ăn hoặc uống hằng ngày gồm các loại cây, cỏ, thảo mộc v.v… nếu không được dùng làm thuốc để trị các thứ bịnh thì đều thuộc loại thời dược. Những thứ này, nếu quá giữa trưa đứng bóng mà dùng phạm ba-dật-đề.[9]
ii. Phi thời dược  
Cũng gọi là ‹gia phần dược›, hoặc ‹canh dược›, loại thực phẩm không đúng thời, tức được dùng từ giữa trưa đứng bóng trở đi cho đến sáng hôm sau trước
 

[4] 噉食
[5] Luật nhiếp (Đại 24, tr.569c), ngũ chánh thực: 1. Sao 炒, 2 phạn 飯, 3 mạch đậu phạn 麥荳飯, 4. Nhục 肉, 5. Bính 鉼. Tứ phần 42 (Đại 22, tr.866a).
[6] 佉陀尼. Cf. Thiện kiến 17, (Đại 24, tr.795a19): khư-xà-ni, chỉ tất cả trái cây. 呿闍尼者, 一切果
[7] 嚼食.
[8] Tứ phần 42, khư-xà-ni 佉闍尼 gồm các thức ăn bằng rễ, bằng cọng, bằng lá, bằng hoa và bằng quả
[9] Tứ phần giới bổn, ba-dật-đề 37.
 
khi minh tướng xuất hiện. Luật nhiếp[10] liệt kê có tám loại phi thời dược này:
a) Chiêu giả tương,[11] phiên âm từ cocapāna của tiếng Phạn, tức nước dừa hay nước cốt dừa.  
b) Mao giả tương,[12] phiên âm từ mocanāna, nước chế biến từ chuối. Phần ghi chú của Luật nhiếp nói: ‹Lấy một ít hồ tiêu rắc lên quả chuối rồi khuấy thật nhiều cho thành nước. ấy không phải là loại nước chế bằng cách làm cho chuối lên men. Nếu lên men, có chất say như rượu, không được phép dùng.
c) Cô-lạc-ca tương,[13] nước cô-lạc-ca, với ghi chú hình dạng giống như tắc chua. Nhưng đây là phiên âm từ kolaka, chỉ cho hạt tiêu.       
d) A-thuyết-tha tử,[14] Phạn: aścat, thông thường gọi là cây bồ-đề vì đức Thế Tôn ngồi dưới đó mà thành đạo. Theo Luật nhiếp; hạt của nó có thể chế làm nước uống.      
e) Ô-đàm-bạt-la tương,[15] thường âm là Ưu-Đàm-Bát-La, Phạn: udumbara, chỉ cây sung hoặc vả; trái của nó chế làm nước uống.  
f) Bát-lỗ-sái tương,[16] Phạn: parūsaka; ghi chú của Luật nhiếp nói là quả của nó giống như nho tức loại
 

[10] Đại 24, tr.569c.
[11] 招者漿
[12] 毛者漿(即芭蕉子)
[13] 孤洛迦漿(狀如酸棗).
[14] 阿說也子漿(是菩提樹子也)
[15] 烏曇跋羅漿
[16] 缽魯灑漿(其果狀如蘡薁子)
 
trái thuộc họ Nho. Đích thực không rõ là thứ cây gì. Có lẽ là một lọai cây mà quả mọng của nó được dùng làm nước mát.   
g) Miệt lật trụy tương,[17] Phạn mṛdvī, chỉ quả nho. Đây là thứ nước do nghiền nát quả nho rồi hòa với nước, sau đó được lọc bỏ xác, tức là nước nho tươi. Nó không phải là nước nho đã lên men dùng làm rượu.  
h) Khát-thọ-la tương,[18] Phạn: kharjūra: chỉ loại nước lấy từ quả chà là. 
Tứ phần 42[19] lại có một bản liệt kê tám thứ nước trong đó một số không đồng nhất với liệt kê trên:
a) Nước trái lê  
b) Nước trái diêm phù (quả hồng táo)
c) Nước táo chua
d) Nước mía
e) Nước trái thị
f) Nước xá-lâu-già (Phạn: śāluka) nước ngó sen
g) Nước trái bà-lâu-sư, tức bát-lỗ-sái, như đã dẫn trên.
h) Nước nho  
Truyền thống Thượng tọa bộ Pàli cũng kể có tám thứ nước thuộc phi thời dược như sau:[20]
 

[17] 蔑栗墜漿(即是蒲萄果)
[18] 渴樹羅漿
[19] Đại 22, tr.873c: «Tám thứ nước này là thức uống của Vô Dục Tiên nhân 無欲仙人 thuở quá khứ.»
 
 
a) Nước trái am ma lặc, tức quả xoài.
b) Nước trái diêm-phù, như Tứ phần.
c) Nước cốt dừa, như Luật nhiếp.
d) Nước quả chuối, như Luật nhiếp.
e) Nước mật ong, nghĩa là mật ong hòa tan với nước.
f) Nước trái nho, như Luật nhiếp; hoặc trái thị, như Tứ phần.
g) Nước ngó sen, tức xá-lâu-già, như Tứ phần.
h) Nước trái ba-lậu-sư, tức bà-lâu-sư theo âm của Tứ phần, hoặc bát-lỗ-sái theo âm của Luật nhiếp đã nêu trên.      
So sánh ba bản liệt kê trên thì thấy rằng giữa ba truyền thống, tức Luật nhiếp của Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ, Tứ phần của Đàm-vô-đức, và Thượng tọa bộ Pàli, mặc dù đồng nhất với nhau rằng có tám thứ nước trái cây thuộc phi thời dược, nhưng không đồng nhất với nhau về một số trái cây được phép xay nghiền nát để lọc lấy nước. Đó là do tính chất địa phương của các loại thổ sản, nhưng có thể nói rằng, nguyên tắc chung là các thứ trái cây được dùng làm nước để giải khát đều có thể chế biến làm phi thời dược.
Các loại phi thời dược này chỉ được phép dùng nội
 

[20] Mahāvagga vi., Vin. iv. 246: anụānāmi bhikkhave aṭṭha pānāni: ambapānaṃ jambu-pānaṃ cocapānaṃ mocapānaṃ madhūkapānaṃ muddikapānaṃ sālūkapānaṃ phārusaka-pānaṃ.
 
ngày không được cất chứa qua đêm.
iii. Thất nhật dược  
Thuốc được phép cất chứa trong bảy ngày để dùng; qua ngày thứ tám, khi minh tướng xuất hiện, mà còn cất chứa và dùng, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề[21] Loại này có năm thứ:
a) Sanh tô, do sữa dê hoặc sữa bò đun sôi để nguội, nhưng chưa đến độ đông đặc; tức một loại sữa bò lỏng hay bơ lỏng.   
b) Thục tô, cùng cách chế biến như sanh tô, nhưng đông đặc hơn, tức một loại bơ đặc.    
c) Du, các loại dầu ép từ các thứ hạt có chất dầu như vừng, lạc v.v…   
d) Mật, tức mật ong.   
e) Thạch mật, tức đường phèn, do mật mía để cho cô đặc lại, cứng như đá.[22] (9)  
iv. Tận hình dược hoặc tận thọ dược 
Loại thuốc dùng cho đến hết đời. Có ba thời hạn của
 

[21] Tứ phần giới bổn, ni-tát-kỳ ba-dật-đề 36, gọi nó là tàn dược nhưng không nên hiểu là thuốc dư tàn hay thuốc thừa mà cần hiểu là thuốc được phép cất và dùng dài hạn, trong khoảng thời gian nhất định là 7 ngày. Thập tụng, ni-tát-kỳ 30 gọi nó là hàm tiêu thực: loại thuốc để tiêu hóa. Pàli, nissaggiya 23, Vin.iii.251, định nghĩa là loại thuốc nguyên là thức ăn, nghĩa là thức ăn thường ngày nhưng cũng dùng làm thuốc để trợ tiêu hóa.
[22] Luật nhiếp 8 (Đại 24, tr.596c) tô, du, sa đường và mật.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »