Này đại đức, thôi đi! Hãy khoan độ người.
Trái lại, nếu nhận thấy đủ tư cách, thì Tăng tiến hành yết-ma súc chúng. Thầy yết-ma bạch:
Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tỳ-kheo… này nay thỉnh cầu Tăng cho phép độ người, truyền thọ giới cục túc. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, mong Tăng chấp thuận. Tăng nay cho phép tỳ-kheo… được độ người, truyền thọ giới cụ túc. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tỳ-kheo… này, thỉnh cầu Tăng cho phép độ người, truyền thọ giới cụ túc. Tăng nay cho phép tỳ-kheo… này được độ người, truyền thọ giới cụ túc. Các trưởng lão nào chấp thuận, Tăng cho phép tỳ-kheo… được độ người, truyền thọ giới cụ túc, thì im lặng. Ai không chấp thuận, hãy nói.
Tăng đã chấp thuận cho tỳ-kheo… được độ người truyền thọ giới cụ túc, vì im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.
4. THẾ PHÁT XUẤT GIA – THỌ GIỚI SA-DI
Theo những điều được ghi chép trong Kinh tạng cũng như Luật tạng, vào thời kỳ đầu của giáo đoàn Tăng lữ, những người thâm tín Phật pháp, cầu xuất gia, liền được xuống tóc và truyền thọ cụ túc để trở thành tỳ-kheo ngay. Bấy giờ đức Phật cũng chưa qui định số tuổi thấp nhất để thọ tỳ-kheo. Nhưng về sau, khi nhóm thiếu niên gồm mười bảy người, tuổi chưa đủ hai mươi, thọ cụ túc rồi mà không kham nổi phận
sự của tỳ-kheo, không chịu đựng nổi việc không ăn phi thời, nên ban đêm kêu khóc. Đức Phật khiển trách các tỳ-kheo truyền giới mà không biết nhận định. Người chưa đủ hai mươi, không kham nổi đời sống khổ hạnh, không chịu đựng nổi các thứ muỗi mòng, nóng lạnh đói khát, nhẫn nhịn những lời thô bạo của người dời, thì làm sao có thể chấp hành được học xứ của tỳ-kheo. Do đó, đức Phật chế định rằng, nếu tỳ-kheo độ người chưa đủ hai mươi tuổi thọ giới cụ túc, phạm ba-dật-đề.[12]
Sa-di[13] là cấp bực đầu tiên của giới xuất gia. Trẻ nhỏ ít nhất là bảy tuổi, có thể đuổi quạ được, có thể làm sa-di.[14] Tuổi từ bảy đến mười ba được thọ giới làm sa-di, thì được gọi là khu ô sa-di, nghĩa là sa-di chỉ có một phận sự là đuổi quạ. Từ mười bốn đến mười chín được gọi là ứng pháp sa-di, tức sa-di thực thụ học tập đầy đủ các phận sự của người xuất gia. Từ
[12] Tứ phần luật 17 (Đại 22, tr 679a), ba-dật-đề điều 65. Cf. Tứ phần 34, Đại 22, tr.807c29; Ngũ phần 17, tr.115b25; Thập tụng 21, tr.150b9.
[13] Tứ phần 34, tr.809c3, Phật giao cho Xá-lợi-phất độ La-hầu-la làm sa-di đầu tiên. Ngũ phần 17, tr.116c6, Xá-lợi-phất độ Chu-na làm sa-di trước, kế đến La-hầu-la là người thứ hai. Cf. Mahāvagga I, tr.82.
[14] Tứ phần 34, tr.810c24: Có một thí chủ, cả nhà chết hết, chỉ còn bé trai chưa đầy 20 tuổi. A-nan dẫn đến lễ Phật. Phật hỏi: Sao không cho nó xuất gia? A-nan bạch: Phật chưa cho phép trẻ nhỏ dưới 12 xuất gia. Phật hỏi: biết đuổi quạ không? ăn một ngày một bữa được không. Phật cho phép A-nan nhận bé trai này làm sa-di đuổi quạ (khu ô sa-di 驅烏沙彌). Pali: kākuṭṭepaka.
hai mươi đến bảy mươi gọi là danh tự sa-di, tức sa-di trên danh nghĩa.[15]
Theo nguyên tắc, nếu người được phép cạo tóc xuất gia thì phải được truyền giới sa-di ngay.[16] Nếu dù đã xuống tóc mà chưa thọ sa-di thì chưa thể gọi là người xuất gia được. Tuy nhiên, theo thông lệ phổ biến ở nước ta, cũng như của Trung quốc từ xưa, bất kể tuổi đời lớn nhỏ bao nhiêu, sau khi được thầy cho cạo tóc xuất gia, phải trải qua một thời gian tối thiểu ba tháng, thọ trì tam qui và ngũ giới, làm tịnh nhân để tập sự. Trong thời gian đó, ông thầy phải theo dõi quan sát tư cách và chí hướng, nếu nhận thấy chí hướng đã vững vàng thì mới cho thọ giới sa-di. Mặc dù điều này không được qui định trong Luật tạng, nhưng sự thực hành không phải là vô ích. Vì có như thế mới tránh được nhiều trường hợp xuất gia vì lợi dưởng, hay vì mục đích nào khác chứ không phải để cầu đạo giải thoát. Vì đây không phải là điều mà Luật tạng bắt buộc, trong khi thực hành cũng cần phải linh động. Nếu nhận thấy người đã có tín tâm vững chắc nơi Phật Pháp, chí nguyện đã kiên cường, và tuổi đã đủ hai mươi thì có thể cho xuất gia thọ sa-
[15] Theo Hành sự sao III4, tr.150a3. Tứ phần 34 (đại 22, tr.810c), dưới 12 tuổi là sa-di đuổi quạ (xem cht.14 trên). Pali, Mahāvagga I, tr.79: quy định dưới 15 tuổi.
[16] Mahāvagga I, tr.82: Thoạt tiên, Phật giao La-hầu-la cho Xá-lợi-phất làm lễ xuất gia chỉ với pháp tam quy (anujānāmi bhikkhave imehi tīhi saraṇagamanehi sāmanerapabbajjan’ti). Về sau mới quy định 10 giới (dasa sikkhāpadāni) cho sa-di (ibid. 83).
di và cụ túc ngay, không nên diên trì thời gian làm trở ngại sự nghiệp tiến tu của người cầu đạo.
i. Bạch Tăng thế phát
Về nghi thức làm lễ xuất gia, sẽ được nói trong tập sách khác với đầy đủ chi tiết. Ở đây, trong phạm vi các pháp yết-ma chỉ đề cập những đòi hỏi phải thực hiện giữa Tăng.
Tỳ-kheo đã được Tăng làm yết-ma cho súc chúng rồi thì có thể độ người xuất gia bất cứ lúc nào nhưng một năm không được nuôi hai sa-di và truyền giới cụ túc cho hai người.[17] Nếu việc độ người thế phát được thực hiện ngoài phạm vi đại giới của Tăng, thì không cần phải cáo tri cho Tăng biết. Nhưng nếu ở trong phạm vi đại giới của Tăng, tỳ-kheo làm thế độ bổn sư có bổn phận phải bạch cho tất cả Tăng trong già lam được biết. Tăng cùng tập họp cả vào một chỗ thì tốt, bằng không thể tập họp thì phải dẫn người xin xuất gia đi đến từng phòng mà giới thiệu.[18]
[1] Tứ phần 34, tr.811a4: Bạt-nan-đà nuôi 2 sa-di một lần, không dạy nổi, để họ phạm giới. Phật chế: không được nuôi hai sa-di. Nhưng nếu tỳ-kheo có khả năng dạy giới, định, tuệ, thì cho phép nuôi. Cf. Mahāvagga I, tr.79, 83.
[2] Về nguyên nhân, Tứ phần 34, tr.810a22: Một bé trai trốn cha mẹ xuất gia. Các tỳ-kheo cho thọ sa-di. Cha mẹ vào tinh xá hỏi. Có tỳ-kheo trả lời là không hay biết có bé trai nào như vậy. Sau đó, bố mẹ nhận ra con trai mình, bèn chỉ trích tỳ-kheo nói dối. Do đó, Phật chế như vậy.
Sau khi Tăng đã tập họp, thầy yết-ma hướng dẫn giới tử tác bạch:[19]
Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Thiện nam tử… kia muốn cầu tỳ-kheo… cho xuống tóc. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, mong Tăng chấp thuận, cho thiện nam tử… xuống tóc. Đây là lời tác bạch.
Phép này chỉ một lần đơn bạch mà không có yết-ma.
ii. Truyền giới sa-di
Mặc dù chưa chính thức là một thành phần của Tăng, nhưng người đã thọ giới sa-di là đã chính thức bước vào đời sống xuất gia học tập và đời sống của một thánh giả vô học A-la-hán. Do thế, địa vị của sa-di được tôn trọng trên địa vị một người tại gia dù đó là một thánh giả Tu-đà-hoàn (tức Dự lưu) hay Tư-đà-hàm (tức Nhứt lai).[20] Giới của sa-di gồm 10 điều khoản. Đó là một phần quan trọng trong toàn bộ đời sống siêu xuất thế gian của thánh giả A-la-hán. Là những điều khoản mà một người tại gia dù trên mặt tu chứng đã đạt đến địa vị Thánh giả nhưng do những ràng buộc thế gian mà không thể chấp hành được.
Để xứng đáng với địa vị được tương đối tôn trọng trong hàng đệ tử của Phật gồm cả tại gia và xuất gia, sự hành trì cố nhiên phải nghiêm cẩn đã đành mà sự
[19] Tứ phần 34, tr.810b5: bạch Tăng xin thế phát, sau đó bạch Tăng cho xuất gia.
[20] Những vị này chỉ thọ năm giới. Hoặc theo nhật kỳ thọ 8 giới.
truyền trao và lãnh thọ cũng không thể làm một cách chiếu lệ được. Nội dung của sự truyền thọ là đòi hỏi sự thanh tịnh của Tăng và tâm niệm chí thành khẩn thiết của người thọ. Hai điều kiện chủ yếu này là cơ sở để nâng tâm tư của người thọ lên hàng xứng đáng được kính trọng. Còn về mặt hình thức thì điểm chính là Tăng phải thực hiện đúng pháp yết-ma. Những hình thức tổ chức khác chỉ là phụ thuộc có mục đích làm hiển lộ tính chất thanh tịnh của Tăng một cách cụ thể và kích phát tâm niệm chí thành của người thọ giới đến mức độ cao nhất.
Về nghi thức thọ sa-di các Quảng luật của các bộ phái đều quy định đại cương giống nhau gồm có việc thọ tam quy và tiếp theo là thọ 10 giới. Tứ phần, có thêm phần bạch Tăng trước khi thọ tam quy và 10 giới.[21] Trong Tăng yết-ma của Hoài Tố còn có thêm phần thỉnh Hòa thượng và A-xà-lê[22] trước khi bạch Tăng thọ tam quy và 10 giới. Hướng dẫn bảo:
Nay các người lễ thỉnh sư…
Văn bạch trong các bộ yết-ma này[23] như sau:
(1) Thỉnh Hòa Thượng:
Đại đức nhất tâm niệm. Con (nói tên hay pháp danh) nay thỉnh Đại đức làm Hòa thượng truyền 10 giới. Nguyện Đại đức vì con làm Hòa thượng
[21] Ngũ phần 17, tr.116c: Xá-lợi-phất truyền giới sa-di cho La-hầu-la, không có bạch Tăng thế phất và xuất gia. Thập tụng 21, tr.149c, và Mahāvagga I, tr.103 cũng không nói đến hai việc này.
[22] Xuất xứ, theo Bách nhất yết-ma.
[23] Hoài Tố, Tăng yết-ma, tr.514a1.
truyền 10 giới. Con nương nơi Đại đức mà được thọ giới sa-di. Từ mẫn cố. (nói ba lần)
(2) Thỉnh A-xà-lê:
Đại đức nhất tâm niệm, con… nay thỉnh Đại đức làm A-xà-lê truyền 10 giới. Nguyện đại đức vì con làm A-xà-lê truyền 10 giới. Con nương nơi Đại đức mà được thọ giới sa-di. Từ mẫn cố. (nói ba lần)
iii. Thọ sa-di pháp
Đại đức Tăng, xin lắng nghe. (Nói tên hay pháp danh giới tử) này cầu xin xuất gia theo tỳ-kheo (pháp hiệu). Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận cho… xuất gia. Đây là lời tác bạch.
b. Thọ Tam quy:
(Lời chú của Tùy cơ yết-ma có ghi thêm ở phần này là phải hỏi các già nạn trước khi truyền thọ tam quy).[25]
[24] Văn yết-ma bạch Tăng, xem Tứ phần 34, tr.810c9. Các luật khác, Ngũ phần 17, Mahāvagga I, không có văn yết-ma bạch Tăng này. Thập tụng 21, không nói đến, nhưng Thập tụng Yết-ma tỳ-kheo yếu dụng, Đại 23, tr.496c, có văn yết-ma cho thế phát và xuất gia thọ thập giới.
[25] Tùy cơ yết-ma I, tr.496c2. Các Luật bộ không thấy nói việc hỏi già nạn để thọ sa-di.
Con… quy y Phật, quy y pháp, quy y Tăng. Con nay theo Phật xuất gia, Hòa thượng của con là… đức Như lai bậc Chí chân, Đẳng chánh giác là Thế Tôn của con. (nói ba lần)
c. Thọ mười giới:
(1) Trọn đời không được sát sanh. Đây là giới của sa-di, ngươi có thể thọ trì được không?[27] Đáp: Được.
(2) Trọn đời không được trộm cắp.[28] Đây là giới của sa-di, ngươi có thể thọ trì được không? Đáp: Được.
(3) Trọn đời không được dâm dục.[29] Đây là giới của sa-di, ngươi có thể thọ trì được không? Đáp: Được.
(4) Trọn đời không được nói lời hư dối. Đây là giới của sa-di, ngươi có thể thọ trì được không?
[26] Văn mười giới, theo Đàm-vô-đức bộ Tạp yết-ma, Đại 22, tr.1042a.
[27] Bách nhất yết-ma (T24n1453 tr.456b25): không hỏi đáp, mà giới sư nói văn thập giới, giới tử nói theo: «Như các Thánh A-la-hán trọn đời không sát sinh... Con từ nay cho đến trọn đời không...»
[28] Bất đắc đạo 不得盜. Pali: adinnadānā veramaṇī, bất dữ thủ, tránh xa sự lấy vậy không được cho.
[29] Bất đắc dâm 不得淫. Pali: abrahmacariyā, phi phạm hạnh.
Đáp: Được.
(5) Trọn đời không được uống rượu.[30] Đây là giới của sa-di, ngươi có thể thọ trì được không? Đáp: Được.
(6) Trọn đời không được đeo tràng hoa, và thoa xức dầu, hương thơm. Đây là giới của sa-di, ngươi có thể thọ trì được không? Đáp: Được.
(7) Trọn đời không được ca, múa, diễn kịch và đi nghe xem. Đây là giới của sa-di, ngươi có thể thọ trì được không? Đáp: Được.
(8) Trọn đời không được ngồi trên giường ghế cao rộng. Đây là giới của sa-di, ngươi có thể thọ trì được không? Đáp: Được.
(9) Trọn đời không được ăn phi thời. Đây là giới của sa-di, ngươi có thể thọ trì được không? Đáp: Được.
(10) Trọn đời không được cầm nắm và cất giữ các thứ vàng, bạc,[31] bảo vật trang sức. Đây là
[30] Pali: surāmerayamajjapamādaṭṭhānā, các trạng thái say sưa do bởi rượu nếp, rượu trái cây các thứ.
[31] Hán: tróc trì sinh tượng nghiêm sức bảo vật 捉持生像嚴飭寶物 Pali: jātarūpajata-paṭiggahaṇā.
giới của sa-di, ngươi có thể thọ trì được không?
Đây là giới của sa-di, suốt đời không được vi phạm. Có thể thọ trì được không? Đáp: Được.
Ở đây cần thảo luận một số điểm trong nghi thức được giới thiệu trên.
Về việc thỉnh Hòa-Thượng và A-xà-lê, đây là khoản được thêm vào sau này. Tuy trong các Quảng luật không đề cập việc này, nhưng trong Bách nhất yết-ma của căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ có quy định.[32]
Điểm đáng lưu ý việc hỏi các già nạn như được ghi trong Tùy cơ yết-ma của Đạo Tuyên. Trong Quảng luật của các bộ phái, chúng không được đặt ra trong trường hợp thọ sa-di một cách minh nhiên. Nhưng trong Bách nhất yết-ma của căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ có quy định thành một tiết mục sau phần thỉnh Hòa thượng A-xà-lê.[33]
Nhận xét tổng quát mà nói, thì khởi thủy nghi thức thọ sa-di vốn đơn giản, nhưng về sau quá trình phát triển của Luật tạng trong các bộ phái khác nhau bao gồm cả hai mặt thực tế hành trì và cơ sở thực tế. Chính do thực tế của hành trì mà một số tiết mục cần thiết được thêm vào để tăng gia tầm vóc quan trọng của giới sa-di. Đây là điểm cần lưu ý trong áp dụng
[32] Bách nhất yết-ma 1 (đại 24, tr.456a).
[33] Đại 24, n1453, tr.456a24.
để được linh động tùy theo hoàn cảnh. Mặt khác, dưới tầng sâu của từng tiết mục còn chứa đựng những cơ sở tư tưởng được giải thích tùy theo lập trường của mỗi bộ phái. Đó cũng là điều không thể không biết đến.
Những sai biệt trong các trường hợp thọ giới sa-di chủ yếu là do trình độ trí năng có nhiều biến chuyển khác nhau trong khoảng từ bảy đến hai mươi tuổi. Như trẻ nhỏ bảy cho đến mười ba tuổi, thực tế chưa đủ trình độ ý thức rõ rệt về việc xuất gia của mình, và các già nạn nếu được đặt ra cho chúng thì quả là không thích hợp vì dù cố gắng đến đâu cũng khó mà giải thích cho chúng hiểu. Ngoại trừ những trẻ nhỏ phi thường. Mà trường hợp phi thường như chú bé Tô-đà-di, không những chỉ được xuất gia làm sa-di mà đức Phật tự thân chấp nhận cho xuất gia làm tỳ-kheo ngay, dù chỉ mới bảy tuổi.[34] Nhưng trừ Phật ra thì có lẽ không ai đủ khả năng để quyết định trường hợp phi thường như vậy.
Trường hợp các già nạn thực sự có ý nghĩa là các hình đồng, tức những người xuất gia thọ sa-di khoảng từ hai mươi đến bảy mươi. Hình đồng sa-di, cũng gọi là danh tự sa-di. Những vị này tuy hình tướng là sa-di, nhưng với tuổi tác trưởng thành thì cung cách xử sự không khác tỳ-kheo, và tất nhiên đã từng tham gia nhiều thế sự. Cho nên các già nạn được đặt ra cũng cần thiết.
[34] Tô-đà-di 蘇陀彌; Skt. Sodāyin. Xem Câu xá 14 (Đại 29, tr.74c1).
Mặc dù, trong các nghi tiết hành sự không nên có sự chấp nhất một cách máy móc theo một truyền thống nào nhưng nếu có sự thêm bớt cần thiết nào cho phù hợp với thực tế của hoàn cảnh thì những thêm bớt ấy cần phải được qui định bởi Tăng, chứ không thể tự tiện theo quan điểm cá nhân để khiến có thể dẫn đến tình trạng chia rẽ bất nhất trong toàn thể Tăng-già của một xứ.
iv. Ngoại đạo xuất gia [35]
a. Tổng luận
Ngoại đạo là chỉ chung tất cả những đạo giáo ngoài đạo Phật. Trong thời đức Phật, và cả trong lịch sử phát triển của đạo Phật tại Ấn độ, vấn đề quan hệ với ngoại đạo là một vấn đề rất trọng yếu. Nó không đơn giản chỉ là vấn đề dị biệt tư tưởng, mà còn là vấn đề trong những sinh hoạt thực tế của Tăng đoàn. Lịch sử Ấn độ nổi bật với những vấn đề giai cấp và tôn giáo. Tất cả bốn giai cấp của xã hội Ấn trong thời đức Phật, trừ Chiên-đà-la không được kể là một giai cấp và bị liệt xuống ngang hàng súc vật, đều có người xuất gia hành đạo và tổ chức thành giáo đoàn riêng biệt theo xu hướng tư tưởng đặc thù của giai cấp mình. Cho nên sự xung đột tư tưởng bấy giờ cũng được coi là sự xung đột về giai cấp. Bản chất giai cấp và bản chất tư tưởng tôn giáo khó mà tách thành hai phần khác nhau trong xã hội Ấn thời cổ. Đức Phật bằng nhiều phương tiện đã đưa giáo đoàn
[35] Tứ phần 34, tr.807a 3; Mahāvagga I, tr.69.
của Ngài vượt ngoài sự chi phối của bản chất giai cấp. Điều này không phải là đơn giản. Trong một tập thể sống chung như Tăng đoàn, trong đó trộn lẫn đủ mọi thành phần giai cấp, kể cả những người Chiên-đà-la thuộc giai cấp hạ tiện, thì sự bình đẳng và hòa hợp là cả vô số vấn đề.
Trong các kinh điển, sự việc những người dị giáo sau quay sang đạo Phật được ghi nhận rất nhiều và những điều phiền toái xảy ra cho chính bản thân người cải giáo cũng không phải là ít. Như trường hợp Ưu-ba-ly[36] (không phải trưởng lão Ưu-ba-ly của Luật tạng). Một đệ tử tại gia có uy tín bậc nhất của Ni-kiền Thân Tử, sau khi tìm đến đức Phật để tranh luận, và được Phật thuyết phục, ông ngõ lời qui y Phật. Nhưng Phật không chấp thuận ngay mà khuyên ông nên thận trọng suy nghĩ trong sự cải giáo, vì một người có uy tín và có địa vị trong đạo giáo cũng như trong xã hội mà cải giáo không phải sự việc đơn giản.[37] Quả thật, một số sự việc rắc rối đã xảy ra cho Ưu-ba-ly sau khi nguồn tin ông bỏ Ni-kiền Thân Tử để theo Phật được lan truyền. Đương nhiên, trong địa vị và uy tín có sẵn, ông giải quyết vấn đề rất ổn. Và trường hợp khác, hai người Bà- la-môn thuộc dòng họ Phả-la-đọa[38] muốn xuất gia theo Phật. Ngài chấp nhận nhưng phải trải qua bốn tháng sống chung[39] với
[37] Trung A hàm 32: «Ưu-ba-li kinh» (Đại 1, tr.628a); cf. Pali, M.56. Upāli.
[38] Pali: Vāseṭṭha, và Bhāradvāja.
[39] Tứ nguyệt cọng trú 四月共住. Thập tụng 21, tr.150b27: bốn
Tăng trước khi chính thức xuất gia thọ cụ túc làm tỳ-kheo. Trong thời gian bốn tháng đó, có lần đức Phật đã hỏi hai ông là có sự chống đối nào xảy ra trong gia đình và dòng họ không. Hai người trình bày những chống đối gay gắt từ mọi phía về quyết định xuất gia làm tỳ-kheo của mình.[40]
Như vậy, chấp nhận một người khác đạo giáo vào trong Tăng đoàn thực sự luôn có hai khía cạnh của vấn đề. Đó là tư tưởng và xã hội. Hai khía cạnh này không được đặt ra ngay từ đầu, sau này sẽ có thể dẫn đến những trường hợp chia rẽ của Tăng. Trong lịch sử đao Phật chỉ sau Phật Niết-bàn hơn 100 năm, giáo đoàn Tăng lữ đã bị phân hóa. Các bộ phái Phật giáo khi nói về sự phân hóa này đại bộ phận đều qui kết vào nguyên nhân là do sự trà trộn của ngoại đạo. Những người này khi vào đạo Phật, có thể do tín tâm, nhưng tín tâm chưa đủ sâu và mang theo cả tập quán suy tư về tôn giáo của mình nữa, và đồng thời chưa thanh lọc hết bản chất giai cấp trong tác phong đời sống, cho nên khi họ có địa vị ảnh hưởng trong Tăng, thì ảnh hưởng ấy dẫn đến sự phá kiến và phá
tháng ba-lị-bà-sa 波利婆沙. Pali: cattāro māse parivāso. Quy định này được Phật di chúc không nên áp dụng sau khi Ngài nhập Niết-bàn; xem Trường A-hàm 4, «Kinh Du-hành» (Đại 1, tr.26a 15). Bản Pali không thấy đề cập sự bãi bỏ này. Ngoại đạo cuối cùng hành 4 tháng cộng trú là Subbhadda; D. ii. tr.151 (Mahāparinibbānasutta).
[40] Trường A hàm 6: «Tiểu duyên kinh» (Đại 1, tr.36b). Pali, D. 24. Aggañña.
giới, tức tạo nên sự chia rẽ tư tưởng và phân hóa tổ chức.
Trong lịch sử nước ta, sự việc ấy chưa từng xảy ra. Nguyên do bối cảnh tôn giáo và xã hội của nước ta không phức tạp như của Ấn độ. Vả lại, với nỗ lực hòa đồng tôn giáo dưới khẩu hiệu tam giáo đồng nguyên, nên không hề xảy ra cuộc phân hóa trầm trọng nào trong giáo hội Tăng già.
Kể từ khi nước ta bị đặt dưới sự đô hộ của người Pháp, tư tưởng phương Tây bắt đầu tràn ngập. Dù vậy, vẫn chưa hề có sự nứt rạn nào đáng kể trong tư tưởng và tổ chức của Tăng. Do thế, vấn đề những người khác đạo xuất gia theo đạo Phật thực sự chưa được đặt thành vấn đề trong Tăng. Nhưng Luật tạng, do phát sinh từ bối cảnh Ấn độ, đã tự liệu điều ấy, và các tổ sư truyền luật vẫn phải nhắc nhở đến. Tuy vậy, do bối cảnh xã hội nước ta trước đây, nên vấn đề chỉ được đặt ra một cách chiếu lệ chứ không được triển khai, vì không có sự va chạm của thực tế. Sau này nếu thực tế ấy xuất hiện, thì nhiệm vụ của Tăng là phải nghiên cứu và phân loại bản chất của tôn giáo để qui định các nguyên tắc cần chấp hành. Khi chấp nhận một người khác tôn giáo vào trong cộng đồng Tăng lữ, nếu không rõ được bản chất tôn giáo của người muốn cải đạo thì nhất thiết phải thận trọng, trừ khi đã có sự xác định của Tăng.
Về vấn đề ngoại đạo xuất gia, văn bản các luật tạng qui định như sau (cụ thể, theo luật Tứ phần).
b. Truyền tam quy và giới sa-di
Trước hết, cho cạo tóc, khoác ca-sa,[41] đến trước Tăng quỳ xuống và tự tác bạch:
Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Con (nói tên) nguyên là ngoại đạo, quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Con nay cầu xin xuất gia theo đức Thế tôn. Đức Thế tôn là Như lai chí chân, đẳng chính giác, là thầy của con. (nói ba lần)
Con (nói tên) nguyên là ngoại đạo, đã quy y Phật, đã quy y Pháp, đã quy y Tăng, cầu xin xuất gia học đạo theo đức Thế tôn. Đức Như lai chí chân, đẳng chính gíac, là thầy của con. (nói ba lần)
Tiếp đến, hướng dẫn thọ 10 giới. Văn thọ, như sa-di.
c. Cho bốn tháng cộng trú
Sau phần quy y và thọ giới, người ấy lại đến giữa Tăng tự tác bạch xin bốn tháng sống chung:
Đại đức, xin lắng nghe. Con (nói tên) nguyên là ngoại đạo, thỉnh cầu Tăng cho bốn tháng sống chung mong Tăng chấp thuận, từ mẫn cho con bốn tháng sống chung. (tác bạch ba lần)
[41] Tứ phần 34, tr.807a: cho cạo tóc và thọ giới sa-di trước khi xin pháp bốn tháng cộng trú. Ngũ phần 17 ( tr.115a), Thập tụng 21 (tr.15b26): không thấy nói truyền sa-di trước khi cho bốn tháng cộng trú.
Tác bạch xong, lui ra khỏi chỗ Tăng đang họp, cách khoảng đủ để mắt nhìn thấy Tăng chứ không nghe rõ Tăng đang nói. Bấy giờ thầy yết-ma bạch Tăng:
Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Vị (nói tên) kia nguyên là ngoại đạo, nay thỉnh cầu Tăng bốn tháng sống chung. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận cho vị ngoại đạo kia (nói tên) bốn tháng sống chung. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Vị (nói tên) kia nguyên là ngoại đạo, thỉnh cầu Tăng bốn tháng sống chung, Tăng nay cho người ấy bốn tháng sống chung. Các trưởng lão nào chấp thuận Tăng cho người ấy bốn tháng sống chung, thì im lặng. Ai không chấp thuận hãy nói.
Tăng đã chấp thuận cho người ấy bốn tháng sống chung, vì đã im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.
Sau phần bạch nhị yết-ma, vị ngoại đạo kia được phép sống chung giữa Tăng, và chấp hành các phận sự như sa-di.
Luật Ma-ha Tăng-kỳ còn qui định thêm rằng, địa vị của người ấy ở dưới sa-di, nhưng không nói rõ có cho thọ sa-di hay không.[42] Qua bốn tháng sống chung giữa Tăng, nếu Tăng nghiệm xét thấy người
[42] Tăng kỳ 24 (Đại 22, tr.421a).
ấy đã thuần thục niềm tin trong pháp luật của Phật hay chưa. Trong bốn tháng ấy nếu nghe có người nói xấu đạo cũ của mình mà không sinh tâm thù hận; nghe ca ngợi đạo Phật thì hoan hỷ, và thường nhật không lân la lui tới những chỗ quen biết trước kia.[43] Nói gọn lại, người ấy đã xóa bỏ hẳn các tập quán tư tưởng và nếp sống cũ trước kia. Đây có thể coi là quá trình phi giai cấp hóa. Điều quan trọng trong bốn tháng sống chung giữa Tăng này là để người ngoại đạo ấy quen với cung cách sống không giai cấp của cộng đồng Tăng lữ; một cộng đồng tập hợp đủ mọi thành phần xã hội và tôn giáo. Qua bốn tháng mà Tăng chưa hài lòng về cung cách sống chung không giai cấp và không cuồng tín tôn giáo cũ của người ấy, thì phải bạch nhị yết-ma gia hạn thêm bốn tháng sống chung nữa.
Việc truyền 10 giới sau khi thọ tam qui ở trên là theo Tứ phần. Còn Ngũ phần, Ma ha Tăng-kỳ, Thập tụng và Thiện kiến, đều không thấy ghi. Riêng Thập tụng qui định là bạch tứ thay vì bạch nhị yết-ma như các bộ khác.
Sau bốn tháng, nếu Tăng hài lòng, sẽ bạch tứ yết-ma cho người ấy thọ cụ túc.
[43] Tứ phần 34, tr.807a 29.