Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Yết - Ma Yếu Chỉ

Yết - Ma Yếu Chỉ

Tác giả: Giảng thuật: Thích Trí Thủ, Biên soạn:Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh, Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng. Dịch giả: Thích Trí Thủ. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 360.

Chương 40: Chương Năm: Bồ tát và thuyết giới, Tiết 1: Duyên khởi và ý nghĩa (Trang 207 - 213)

CHƯƠNG NĂM
 BỐ TÁT VÀ THUYẾT GIỚI
TIẾT 1.
DUYÊN KHỞI VÀ Ý NGHĨA
Luật Tứ phần, chương nói về sự thuyết giới, có ghi duyên khởi thuyết giới như sau:[1] Lúc bấy giờ, đức Phật trú tại Vương xá thành, nước Ma-kiệt-đà.[2] Các nhóm tu sĩ ngoại đạo[3] tại đây cứ mỗi tháng trong các ngày mồng 8, 14, 15,[4] cùng tập họp về một chỗ để cùng giảng đạo, và thọ dụng các sự cúng dường các đệ tử tại gia. Không khí sinh hoạt của họ vào ngày ấy rất thân mật. Vào một hôm, lúc Tần-bà-sa-la, vua nước Ma-kiệt-đà,[5] đệ tử tại gia của Phật, đang ngự trên lầu Hoàng cung, nhìn thấy các nhóm ngoại
 

[1] Tứ phần 35 (Đại 22, tr.816c), ‹Thuyết giới kiền độ›. Tứ phần luật 35 (Đại 22 tr.818b).
[2] Tứ phần, ibid., La-duyệt thành 羅閱城. Pali, Mahāvagga ii. ‹Uposathakkhandho›, Vin.iv. 101: rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate, trú tại thành Vương xá, trên núi Kỳ-xà-quật.
[3] Dị học Phạm chí 異學梵志; Tăng kỳ 27, tr.446c: 96 nhóm người xuất gia. Pali: aññatthiyā paribbājakā. các du sĩ ngoại đạo.
[4] Tháng, tính theo 14 hay 15 ngày hắc nguyệt và 15 ngày bạch nguyệt
[5] Pali: Seniya Bimbisāra; Hán: Tần-bà-sa-la 頻婆娑羅, Bình sa vương 瓶沙王. Tăng kỳ 27, ibid., bấy giờ A-xà-thế đã soán ngôi mà làm vua.
 
đạo đang tụ tập về một chỗ như vậy, bèn tự nghĩ rằng: «Trong thành này, những người Phạm chí mỗi tháng tụ họp sáu ngày, trong không khí thân mật như thế. Nếu chúng tỳ-kheo đệ tử Phật cùng tụ họp như vậy thì phước lạc cho những người đệ tử tại gia biết bao.» Rồi nhà vua ngự đến chỗ Phật đang ngụ, trình bày ý nghĩa của mình. Đức Thế Tôn chấp nhận sự đề nghị bằng cách im lặng.       
Sau khi vua Tần-bà-sa-la rời chỗ ngồi trở về Hoàng cung, đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo đến và chấp thuận cho chúng tỳ-kheo hành sự bố-tát.
Bố-tát là dịch âm từ tiếng Phạn poṣadha. Từ này là một dạng hỗn chủng của tiếng Phạn Phật giáo; trong Pàli nó được nói là uposatha. Từ này trong tiếng Phạn tiêu chuẩn được gọi là upavasatha, nghĩa đen của từ này là ‹sống gần› hay ‹ngày phụng sự.› Nguyên lai, trong truyền thống Vệ-đà, mỗi tháng thường có những ngày hiến tế lễ Soma. Trước đó một ngày, tế sư phải dọn mình bằng cách nhịn ăn, tiết chế các thứ dục lạc, và vào trong hỏa thất, tức ngôi nhà thờ lửa. Do ý nghĩa này, từ upavasatha được hiểu theo nghĩa bóng là ‹ngày kiêng cữ› hoặc ‹ngày nhịn ăn› hoặc nói theo Hán ‹ngày trai.› Tục lệ các ngày trai như vậy có trong nhiều tôn giáo. Ngay ở Trung Quốc, khi các vua chúa muốn cử hành các lễ tế thiên địa hay tông miếu, thường phải có những ngày gọi là trai giới. Như vậy, đức Phật đã chấp nhận ngày trai giới trong tập tục của truyền thống Vệ đà, nhưng hướng đến mục đích khác hơn. Ngày đó các tỳ-kheo cùng sống trong một cương giới đều phải tập
họp lại một chỗ để thuyết giới, tức đọc giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa. Từ đó, bố-tát và thuyết giới trở thành phận sự thường xuyên và định kỳ mà một tỳ-kheo không thể thiếu sót. Nếu thiếu sót, tỳ-kheo ấy phạm đột-kiết-la.[6]
Luật tạng cũng có kể rằng, vào một lúc nọ tôn giả Đại Kiếp-tân-na[7] đang trú ở một nơi thanh vắng. Đến kỳ Tăng thuyết giới, tôn giả tự nghĩ rằng mình vốn là người trì giới thanh tịnh thì sự nghe thuyết giới xét ra không cần thiết. Vì biết được ý nghĩ này, Phật đã đích thân đến bảo tôn giả rằng: «Này Kiếp-tân-na, quả thật điều ngươi nghĩ, dù ngươi có đến nghe thuyết giới hay không nghe thuyết giới thì ngươi vẫn là người thanh tịnh bậc nhất. Nhưng này Kiếp-tân-na, đối với việc thuyết giới, ngươi phải cung kính, tôn trọng và chấp hành. Nếu ngươi không cung kính, tôn trọng và chấp hành thì còn ai sẽ là người cung kính, tôn trọng, chấp hành sự thuyết giới?»
Nhưng thuyết giới là thuyết những gì? Luật tạng cho biết đây cũng là câu hỏi mà các tỳ-kheo đã từng hỏi Phật, khi Ngài thiết lập sự thuyết giới định kỳ nửa
tháng.[8] Khi được các tỳ-kheo hỏi như vậy, Ngài chỉ
 

[6] Tứ phần 35, tr.818b19; Ngũ phần 17, tr.122a 5. Tăng kỳ 27, tr.448a: tội việt tỳ-ni. Cf. Tăng kỳ 27, tr.449c6: Tăng tập họp bố tát, tỳ-kheo nào không đến dự, phạm thâu-lan-giá.
[7] Đại Kiếp-tân-na 大劫賓那, hay Kiếp-tân-nậu 劫賓莬. Tăng kỳ 27, ibid., tôn giả A-na-luật 阿那律. Mahāvagga ii. Vin.iv. 105, Mahākappina.
[8] Tứ phần 35, tr.816a: thoạt đầu, các tỳ-kheo tập hợp 3 ngày trong nửa tháng, nhưng không biết phải làm gì; Phật bảo, hãy
 
dạy, đó là ngày chúng tỳ-kheo hòa hiệp tụng đọc Ba-la-đề-mộc-xoa, và nội dung của Ba-la-đề-mộc-xoa ấy được rút gọn trong bài kệ:
Không làm các điều ác,
Thực hành các điều thiện.
Giữ tâm ý trong sạch,
Chư Phật dạy như vậy.[9]
Ba-la-đề-mộc-xoa được lưu truyền giữa các bộ phái khác nhau không phải chỉ đơn giản có như thế. Nó là một hệ thống những điều cấm kỵ, qui định những trường hợp vi phạm và không vi phạm, cùng các hình thức xử trị và sám hối cho những tỳ-kheo vi phạm. Nói cách khác, đây là bộ luật của Tăng. Khi bộ luật này được hoàn chỉnh thành hệ thống gồm năm thiên và bảy tụ, thì việc thuyết giới không còn đơn giản là đọc bài kệ bốn câu như đã nói. Thuyết giới kể từ bây giờ là đọc lại toàn bộ Ba-la-đề-mộc-xoa ấy. Tỳ-kheo nào trong nửa tháng có vi phạm điều nào trong đó, phải sám hối và tuỳ theo tội nặng nhẹ đã được quy định mà sám hối cho đúng pháp.
 

giảng Kinh; hãy thuyết pháp, tối thiểu là thuyết bài kệ như dẫn trên. Thời gian sau, Phật mới ấn định cụ thể ngày và pháp thức bố-tát. Mahāvagga ii., tr.101: (…) sannipatitehi dhammo bhāsitabbo, Phật dạy, khi tập hợp, nên thuyết pháp.
[9] Cf. Dhp.183. Tăng kỳ 27, Đại 22, tr.446c, Tứ phần luật tỳ-kheo giới bản, Đại 22, tr.1022b: đây là giới kinh của Phật Ca-diếp. Cũng theo giới bản, ibid., Phật Thích-ca, trong 12 năm đầu, cũng thuyết Ba-la-đề-mộc xoa cho các tỳ-kheo vô sự bằng một bài kệ (Cf. Dhp. 361). Từ năm thứ 13 trở đi, mới bắt đầu quy định các điều khoản.
 
Tuy vậy, định kỳ thuyết giới không có nghĩa là định kỳ sám hối. Bởi vậy, theo nguyên tắc cơ bản của việc chấp hành các học xứ, thì khi nào một tỳ-kheo tự thấy mình có tội, hay được người khác chỉ cho biết, thì phải sám hối ngay. Nếu trong ngày hôm đó mà không sám hối kịp, tội căn bản sẽ kéo theo một số tội tòng sinh khác, hoặc phú tàng hay cố vọng ngữ nặng hay nhẹ tùy theo trường hợp.
Vậy thì, định kỳ thuyết giới có mục đích gì?
Chúng ta biết rằng, Tăng đoàn đệ tử của Phật được thiết lập trên nguyên tắc hòa hiệp và dân chủ. Ba-la-đề-mộc-xoa là sợi dây[10] ràng buộc các thành viên của cộng đồng Tăng lữ bằng kỷ luật tu đạo vào đời sống hòa hiệp tập thể. Việc thuyết giới định kỳ là biểu hiện của đời sống ấy. Nơi trú xứ mà các tỳ-kheo không hòa hiệp thuyết giới theo định kỳ nửa tháng, nơi ấy Tăng đoàn được coi là bị chia rẽ. Do vậy, việc thuyết giới định kỳ có mục đích chủ yếu là duy trì sinh mạng tồn tại của Tăng đoàn theo tinh thần hòa hiệp và thanh tịnh. Duy trì sự hòa hiệp và thanh tịnh này là bổn phận tất yếu, không thể thiếu sót của bất cứ tỳ-kheo nào.
Ngoài ra, ngày bố-tát không những chỉ giới hạn trong sự thuyết giới của Tăng. Nó cũng được mở rộng cho các đệ tử tại gia dưới hình thức thọ trì tám học xứ, gọi là giới cận trụ, trong thời hạn một ngày
 

[10] Tứ phần 1, Đại 22, tr.569c7: «(Phật nói:) Xá-lợi-phất, cũng như nhiều thứ hoa được để trên bàn, được xâu lại với nhau bằng sợi dây. Tuy có gió thổi, vẫn không bị phân tán.»
 
 một đêm. Chính do sự kiện này mà từ ô-ba-bà-sa (upavasatha)[11] hay bố-tát (poṣadha) được hiểu theo một ý nghĩa rất rộng rãi. Ý nghĩa này được phân tích theo luận Câu xá như sau:[12]
Trước hết, về từ ô-ba-bà-sa, tiếng Phạn là upavāsa xét về một từ nguyên, có nghĩa là ‹cận trụ,› tức ‹sống gần,› và sống gần ở đây có nghĩa là ‹gần gũi đời sống cao thượng của thánh giả A-la-hán.›[13] Như chúng ta đã biết, theo nguyên nghĩa, ngày cận trụ là ngày mà một đệ tử dọn mình cho thanh tịnh để phụng sự, và do đó, cận trụ, theo nghĩa bóng lại được hiểu là trai, tức kiêng cữ. Sự kiêng cữ chủ yếu là tiết chế ăn uống và các sự hưởng thụ dục lạc khác. Do vậy, tám giới cận trụ cũng được gọi là bát quan trai giới.[14]
Thứ nữa, về từ bố-tát, phiên âm của từ tiếng Phạn poṣadha. Đây là từ ngữ có hình thái của tiếng Phạn hỗn chủng của đạo Phật, mà pàli đọc là uposatha, và tiếng phạn cổ điển của nó là upavasatha với biến thái
 

[11] Dạng biến thái trong Câu-xá là upavāsa. Kośabhāṣya, iv. 213: arhatāṃ samope vasanty anenety upavāsas teṣām anuśikṣaṇāt, nói là upavāsa (Chân Đế phiên âm: ưu-ba-bà-sa 優波婆沙), vì sống gần các A-la-hán, học theo các Ngài. Tham chiếu Hán, Câu xá 14, Đại 29, tr.75b7: ngôn cận trú giả, vị thử luật nghi cận A-la-hán trụ 言近住者謂此律儀近阿羅漢住. Cf. Tì-bà-sa 124, Đại 27, tr.647b8: «Thế nào gọi là cận trú?… Tránh xa việc ăn phi thời tức là cận trú.»
[12] Câu xá 14, Đại 29, tr.75b.
[13] Xem cht. 11 trên.
[14] Pali: aṭṭhaṅgasamannāgata uposatha, Cf. A.i. 205. Tạp A-hàm 16 (24.6), Đại 2, tr.618tt.
 
của nó la upavāsa như đã biết. Tuy vậy, từ poṣadha này cũng được luận Câu-xá giải thích rằng nó xuất phát từ hai động từ PUṢ→poṣa: nuôi lớn, và DHĀ: đặt để hay duy trì.[15] Do ý nghĩa này, Hán dịch nó là ‹trường tịnh› hay ‹trưởng dưỡng,› tức nuôi lớn sự thanh tịnh hay các thiện pháp.[16]
Nói tóm lại, ngày bố-tát theo phạm vi nghĩa rộng, là ngày trai giới để dọn mình, và trưởng tịnh để nuôi lớn thiện pháp, là ngày mà các đệ tử tại gia tham dự đời sống tu đạo để học tập theo nghĩa hẹp; giới hạn trong phạm vi sinh hoạt của Tăng, thì đó là ngày định kỳ thuyết giới, để duy trì và phát triển sinh mạng của Tăng trong tinh thần hòa hiệp và thanh tịnh.
 

[15] Kośabhāṣya, tr.214: poṣaṃ dadhāti manasaḥ kuśalasya yasmād uktas tato bhagavatā kila poṣadho’ yam iti, «bởi vì nó thúc đẩy sự tăng trưởng của thiện tâm nên Thế Tôn gọi là poṣadha.»
[16] Câu-xá 14, Đại 29. tr.75b: do thử năng trưởng dưỡng, tự tha thiện tịnh tâm, thị cố Bạc-già-phạm, thuyết thử danh trưỡng dưỡng 由此能長養自他善淨心是故薄伽梵說此名長養.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »