Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Yết - Ma Yếu Chỉ

Yết - Ma Yếu Chỉ

Tác giả: Giảng thuật: Thích Trí Thủ, Biên soạn:Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh, Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng. Dịch giả: Thích Trí Thủ. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 360.

Chương 5: Tiết 2: Phân Tích Nội Dung Của Yết-Ma, 1. Yết - ma là gì? (Trang 17 - 20)

TIẾT 2. PHÂN TÍCH NỘI DUNG CỦA YẾT MA
1. YẾT MA LÀ GÌ ?         
Yết-ma là phiên âm từ karman[21] của tiếng Phạn. Hán dịch là «biện sự tác pháp»,[22] và thường được các luật sư Trung quốc giải thích rằng «Vạn sự do tư thành biện cố.» Nghĩa là tất cả công việc của Tăng đều do nó mà được thành tựu mỹ mãn. Đây là dịch và giải thích theo chức năng của yết-ma. Trong nghĩa đen của tiếng Phạn, karman hay «yết-ma» có nghĩa là hành động hay hành vi. Có hành động thuộc cá nhân mà cũng có hành động thuộc tập thể. Để phân biệt rõ hai phạm vi trách nhiệm như thế, trong thuật ngữ Hán dịch ngữ nghiệp luôn luôn được dùng để chỉ cho hành động thuộc cá nhân, và cá nhân ấy hoàn toàn chịu trách nhiệm về những hậu quả mà nó đã làm. Trái lại, phiên âm yết-ma chỉ dùng cho các hành vi tập thể.[23]
 

[21] Skt. nói đủ: karmavācanā (Pl. kammavācā), Hán: yết-ma ngữ 羯摩語; dịch: biện sự tác pháp 辨事作法.
[22] Cf. Hành sự sao (Đại 40, tr.11a), «Thiên 5. Thông biện yết-ma,» phụ chú: «Minh liễu luận sớ phiên là nghiệp. Nghiệp là sở tác (phận sự cần làm). Cũng phiên là sở tác. Bách luận nói là sự. Theo ý nghĩa mà nói, thì phiên là biện sự. Tức là, những việc cần làm đều phù hợp pháp (được quy định), cho nên có công dụng giúp thành tựu.»
[23] Cũng có dịch giả không muốn phân biệt hai trường hợp như thế, nên đều dịch là nghiệp cả Như Tăng-già Đề-bà, Trung A hàm 52 (Kinh Ưu ba li, Đại 1, tr.755c).
 
Trong giáo lý căn bản của Phật, không có hành động nào với sự cố ý mà không đưa đến hậu quả tương xứng nhất định. Động lực của hành vi luôn luôn là ý chí, tức điều mà thuật ngữ của Luận tạng gọi là tư.[24] Hoạt động của ý chí ngang qua sự biểu hiện của thân và ngữ. Khi ý chí đạt đến mục đích mà nó mong muốn, bấy giờ nghiệp đạo căn bản được thành tựu. Nhưng quá trình của bất cứ hành vi nào thuộc thân hay thuộc ngữ, bao giờ cũng phải đi qua ba giai đoạn.[25] Giai đoạn thứ nhất gọi là gia hành của nghiệp đạo, tức giai đoạn chuẩn bị cho hành động. Giai đoạn thứ hai là căn bản của nghiệp đạo, lúc mà hành vi đạt đến mục đích mong muốn. Và sau cùng là hậu khởi của nghiệp đạo, sự tiếp diễn của hành động sau khi căn bản nghiệp đạo đã thành tựu. Sự phân biệt này không chỉ áp dụng cho các hành vi cá nhân, mà cả trong các hành vi tập thể. Thí dụ trường hợp thọ
 

[24] Skt. (=Pl.) cetanā: ý chí, ý hướng, cố ý. Cf. A. iii., tr.45: cetanāhaṃ bhikkhave kammaṃ vadāmi, cetayitvā kammaṃ karoti kāyena vācāya manasā, «Này các Tỳ-kheo, Ta nói nghiệp là tư (ý chí). Sau khi tư duy, nó tạo nghiệp bằng thân, miệng và ý.» Xem Trung A hàm 27 (Kinh Đạt phạm hạnh, Đại 1, tr.600a). Xem thêm Câu xá luận 13 (Đại 29, tr.67b): thế biệt do nghiệp sinh, tư cập tư sở tác 世別由業生思及思所作. Kośa iv. 1: karmajaṃ loka-vaicitryaṃ, cetanā tatkṛtaṃ ca tat.
[25] Cf. Ba giai đoạn của nghiêp: gia hành nghiệp đạo, Skt. prayoga-karmapatha (hay tiền phương tiện, Skt. sāmantaka), căn bản nghiệp đạo, Skt. maula-karmapatha; hậu khởi nghiệp đạo, Skt. pṛṣṭha-karmapatha. Cf. Tì-bà-sa 113 (Đại 27, tr.583b).
 
 giới cụ túc.[26] Sự thành tựu của giới cụ túc, nghĩa là giới tử đắc giới hay nói rõ hơn, giới thể vô biểu[27] đã phát sinh trong thân và tâm của giới tử, khiến cho bản chất tỳ-kheo hiện hữu nơi giới tử, sự thành tựu này là hành vi tập thể, tức do tác pháp yết-ma như pháp mà được thành tựu. Căn bản nghiệp đạo được thành tựu, tức giới thể vô biểu phát sinh nơi giới tử, chỉ khi nào Tăng đã hoàn tất tác pháp yết-ma lần thứ ba. Tất cả các giai đoạn trước, kể từ khi giới tử phát sinh tâm niệm cầu thọ cụ túc giới, được dẫn vào trước Tăng, thành khẩn nói những lời cầu thỉnh giới sư v.v… cho đến Tăng đã thực hiện một lần tác bạch và ba lần yết-ma, tất cả những diễn tiến này đều được gọi là gia hành của nghiệp đạo. Sau khi Tăng đã hoàn tất bạch tứ yết-ma, giới thể vô biểu đã phát sinh nơi giới tử, bấy giờ căn bản của nghiệp đạo được thành tựu. Từ đó trở đi, những việc như truyền trao pháp tứ y, tứ khí, và các sự giáo giới của Tăng đối với vị tân tỳ-kheo đều được gọi là hậu khởi của nghiệp đạo.
 

[26] Giải thích của Câu xá 16 (Đại 29, tr.840, 86a).
[27] Skt. avijñapti. Ht.: vô biểu 無表; Cđ.: vô giáo 無教. Chi tiết, xem Câu-xá 13, Ch. iv, tụng 3d. Cf. Câu-xá 16, nt.: «Sau khi yết-ma lần thứ ba, biểu và vô biểu nghiệp trong một sát na này được gọi là căn bản nghiệp đạo (Skt. maula-karmapatha). Đây gọi là giới thể vô biểu (hay vô tác, La-thập). Về vô biểu, Câu-xá 1, tr.3a: «Vô biểu, tuy tự thể là sắc pháp như hữu biểu, nhưng không biểu thị cho người khác biết, nên nói là vô biểu.» Hữu bộ quan niệm tự thể của vô biểu là thực hữu. Kinh bộ cho là giả hữu. Cf. Câu-xá 13, tr.67c.
 
Như vậy, trên nền tảng, không có sự phân biệt giữa nghiệp cá nhân và nghiệp tập thể. Nguyên lý áp dụng cho một kẻ sát nhân thành tựu hành vi sát hại của nó qua các giai đoạn gia hành nghiệp đạo, căn bản nghiệp đạo, và hậu khởi nghiệp đạo như thế nào, thì nguyên lý ấy cũng áp dụng cho tác pháp yết-ma của Tăng. Đây là nguyên lý cơ bản để xác định tác pháp yết-ma của Tăng được thành tựu hay không thành tựu. Bởi vì, như một người khởi tâm muốn sát hại, và chuẩn bị tất cả điều kiện cần thiết để hoàn tất sự sát hại, nhưng tội sát có thể không thành tựu vì căn bản nghiệp đạo không đủ yếu tố để phát sinh, và cứ theo đó mà người ta xác định các trường hợp khinh trọng của tội sát. Hành sự của Tăng cũng vậy, yết-ma thành hay không thành tựu đều được chi phối bởi nhiều điều kiện.
Xác định tầm mức khinh trọng của một hành động cá nhân cố nhiên không phải đơn giản, do sự diễn tiến phức tạp của hành vi, nhưng nếu so với việc xác định giá trị thành hay hoại của hành vi tập thể thì sự phức tạp ấy vẫn còn tương đối đơn giản. Bởi vì, trong giáo lý của Phật, động lực của nghiệp hay hành vi là ý chí. Nếu là ý chí cá nhân, thì chỉ giới hạn trong trạng thái do dự hay cương quyết. Nhưng nếu là ý chí tập thể, thì sự thống nhất ý chí trong tinh thần tuyệt đối hòa hiệp phải được đặt lên hàng đầu. Tất nhiên, một tập thể không phải là một bản thể trừu tượng, mà nó là một hợp thể của nhiều cá thể. Thái độ do dự của một cá thể là sự nứt rạn của tập thể. Một tập thể bị nứt rạn thì chẳng khác nào một con người bệnh hoạn,

 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »