CHƯƠNG BA
TRUYỀN GIỚI, THỌ GIỚI (I)
TIẾT 1.
BƯỚC ĐẦU XUẤT GIA
1. DẪN KHỞI
Theo ý nghĩa thông thường nhất, thọ giới là một hình thức chấp nhận nội qui để một người có thể trở thành thành viên của một cộng đồng, cùng sinh hoạt và cùng hỗ trợ để đạt tới mục đích lý tưởng. Trên danh nghĩa, cộng đồng đệ tử của đức Thích Tôn được phân thành bốn nhóm, nhưng trong thực tế sinh hoạt thì chỉ có hai nhóm là xuất gia và tại gia. Do hình thức sinh hoạt thường nhật, cũng như do những quan hệ xã hội khác nhau, mà những người tại gia và những người xuất gia có những qui ước sinh hoạt không giống nhau. Dù vậy, mục tiêu cuối cùng của đệ tử Phật, bất kể tại gia hay xuất gia, đều chỉ có một, đó là giải thoát và giác ngộ. Cho nên tất cả những chế định của đức Thích Tôn về các qui ước sinh hoạt cho các chúng đệ tử đều có ý hướng nhằm phát triển tâm linh, nâng cao phẩm chất đạo đức của mỗi người để làm chất liệu bồi dưỡng trí tuệ. Bản chất của những qui ước này là khả năng phòng hộ, là bờ đê[1] ngăn cản những dòng nước đục từ bên ngoài
[1] Câu-xá 13, Đại 29, tr.69a16: Kinh nói, giới như bờ đê, có
theo các ngõ thân và ngữ chảy tràn vào tâm tư, làm vẩn đục nó đi. Cho nên, sự thọ giới không chỉ đơn giản là một hình thức tuyên thệ để được chấp nhận vào một đoàn thể như thông thường ờ thế gian.
Luận tạng của các học phái Phật giáo, mặc dù xu hướng nhiều về những phân tích tâm lý và khảo sát các nguyên tố cấu tạo vũ trụ và tác thành con người, nhưng không bao giở bỏ sót không nhấn mạnh đến tính quan trọng của sự thọ giới và trì giới. Sự trì giới, chấp hành nghiêm chỉnh những chế định của đức Thích Tôn để bồi dưỡng tâm tư và trí huệ đương nhiên là quan trọng, nhưng sự thọ giới lại càng quan trọng không kém. Mặc dù, xét theo thời gian tính, trì giới là phận sự mà đệ tử Phật phải chấp hành cho đến trọn đời, còn việc thọ giới chỉ giới hạn trong một khoảng thời gian ngắn, nhưng nó là khởi điểm của quá trình tu dưỡng. Bước chân đầu tiên bao giờ cũng quan trọng. Nó phải có hiệu lực tác động ngay vào tâm tư, làm thay đổi bản chất tâm tư cố cựu để dẫn người thọ giới vào một cuộc đời mới, với những sinh hoạt theo các qui ước mới. Nói theo thuật ngữ của những nhà Hữu bộ,[2] nếu sự truyền giới và thọ giới
khả năng ngăn chận sự phạm giới. Kośa, 197: setuś ca sūtre viratir uktā. dauḥśīlyavibandhatvāt.
[2] Tát-bà-đa: «Thọ giới với tâm ân trọng thì có vô giáo (=vô biểu). Nếu thọ với tâm coi nhẹ, chỉ có giáo (=biểu) mà không có vô giáo»; dẫn bởi Hành sự sao I3, tr.25a 8; Cf. Câu-xá 13, Đại 29, tr.69a23: Hữu bộ nói, nếu không tồn tại vô biểu, thì không có biệt giải thoát luật nghi. Kinh bộ (Sautrāntika) bác bỏ quan điểm này. Sdd. tr.69a26, Hữu bộ dẫn kinh chứng
mà không đủ sức mạnh làm phát sinh giới thể vô biểu trong thân tâm của người thọ giới, thì những lời tuyên thệ trong lúc thọ giới không có hiệu lực để chi phối và hướng dẫn người trì giới chấp hành đúng đắn nghiêm chỉnh. Giới thể vô biểu cũng gọi là giới thể vô tác, do đó được coi như là bản chất tồn tại của giới. Một người, sau khi đã thọ giới, nếu rủi gặp trường hợp đưa đến phá giới mà có thể cưỡng chế được, đó là do khả năng phòng hộ của giới thể vô tác ấy. Cũng như bờ đê nếu không kiên cố, gặp cơn nước lũ sẽ bị vỡ. Cũng vậy, giới thể vô tác nếu không đủ mạnh, sẽ bị hủy trước những cám dỗ của tội lỗi.
Chính do quan niệm rất cụ thể về bản chất của giới như vậy, mà sự thọ giới phải được thực hiện theo một số nguyên tắc tất yếu, tùy theo đặc tính của giới. Những nguyên tắc này không phải được thiết định một cách tự nhiên. Chúng được thiết định theo các tính cách hỗ tương tác dụng và ảnh hưởng giữa các hoạt động tâm lý và vật lý của con người. Cho nên, nếu chúng không được tuân hành một cách nghiêm chỉnh, giới thể vô biểu không đủ điều kiện để phát sinh, và như vậy, khả năng phòng hộ của giới sẽ rất yếu hoặc không có gì cả.
minh, giới là bờ đê; chính giới thể vô biểu là bờ đê ngăn chận sự phạm giới. Kinh bộ (Sdd., tr.70a12) bác bỏ. Cf. Thành thật luận 7 (Đại 32n1646, tr.0290a24): «Nếu không tồn tại vô tác (= vô biểu) thì không có các pháp như tránh xa sự sát sinh v.v...»
Tuy giữa các học phái đã xảy ra nhiều thảo luận khác nhau về bản chất và sự tồn tại của giới thể vô tác hay vô biểu, nhưng trên đại thể, họ đều nhất trí với nhau về tính thực tại của khả năng phòng hộ của giới. Cho nên, trong vấn đề truyền và thọ giới, không phải chỉ cần chú trọng nội dung là đủ, mà hình thức truyền thọ cũng là khía cạnh cần phải được coi trọng không kém.
Bản chất của giới tại gia là sự toàn thiện về đạo đức cá nhân nên sự truyền thọ có thể được thực hiện giữa một nhóm người với một người. Nhưng giới xuất gia bao gồm cả đạo đức cá nhân và tập thể, do sự truyền thọ cần phải thông qua tập thể theo thủ tục yết-ma, tức thủ tục hành sự của Tăng. Do ảnh hưởng bởi sự phát triển suy lý của Luận tạng, các luật sư của từng bộ phái thỉnh thoảng cũng dẫn chứng quan điểm của tông phái mình để nhấn mạnh tác dụng tâm lý trong khi thọ và ảnh hưởng của nó đối với vấn đề chấp hành giới luật sau này. Sự dẫn chứng của họ đôi khi đi xa đến chủ nghĩa hình thức, nếu so với những trường hợp được ghi chép trong Kinh tạng. Theo tinh thần của Kinh tạng, nếu nói riêng về giới xuất gia, thì hình thức truyền thọ sở dĩ cần được chú trọng là vì để tránh những sự chia rẽ trong Tăng. Một người mới xuất gia, được chấp nhận là một thành viên của cộng đồng đệ tử xuất gia của Phật, không phải đơn giản là vấn đề cá nhân mà trách nhiệm nhiều lắm chỉ là mối quan hệ thầy trò. Ở đây, nó là trách nhiệm liên đới. Sự tiến bộ hay sa đọa của một người xuất gia không phải chỉ mang lại hậu quả cá
biệt cho một người, mà có quan hệ đến cả sự hưng thịnh và suy đồi của Phật Pháp. Cho nên, trong vấn đề truyền thọ giới xuất gia, kể từ sa-di cho đến tỳ-kheo, tư cách của người thọ cũng như phẩm chất của người truyền là những vấn đề mà Tăng có trách nhiệm chung phải kiểm nghiệm, không để cho truyền thọ bừa bãi khiến cho cộng đồng xuất gia trở thành một tập thể hỗn tạp. Chính do ý nghĩa này mà các pháp yết-ma áp dụng cho các việc truyền thọ giới xuất gia cần phải được Tăng chấp hành một cách nghiêm chỉnh.
Cho nên, dù nói theo Kinh, hay Luật tạng hay theo Luận tạng, không bao giờ có vấn đề cho phép một người tự thọ giới. Giới xuất gia không được phép đã đành, mà giới tại gia cũng không hề được phép.[3] Trừ trường hợp các vị đã đạt đến địa vị vô học của một thánh giả A-la-hán. Còn ngay cả đến các Thánh giả hữu học cũng chưa thấy kinh điển nào đề cập đến trường hợp tự thọ.[4] Bởi vì, trong một ý nghĩa nào đó, tự thọ có nghĩa là không biết đến sự tồn tại của cộng đồng đệ tử Phật, và đấy là nguyên nhân chủ yếu sẽ dẫn đến tình trạng chia rẽ giữa các đệ tử Phật.
[3] Câu-xá 14, Đại 29, tr.74b21, biệt giải thóat luật nghi, đắc giới do sự chỉ giáo của người khác (Skt. paravijñāpana)... Hoặc đắc giới từ Tăng như giới của tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni và chánh học; hoặc đắc giới theo cá nhân như loại giới còn lại.
[4] Trừ Đại thừa bồ tát giới, lấy bồ đề tâm làm gốc, gọi là tâm địa giới, thì có thể tự thọ.