«Người thọ trì đã khéo thọ. Trong đây có những công đức và danh dự gì tôi thảy đều có dự phần.»
Tỳ-kheo trì y đáp:
- Nhĩ (hoặc nói: Kính vâng).
Lần lượt như thế cho đến vị tỳ-kheo nhỏ nhất. Trừ các hạng tỳ-kheo không được dự phần như đã kể trên. Sau đó tỳ-kheo trì y trở lại đứng trước Tăng, bạch rằng:
«Bạch đại đức Tăng, tôi nay vì Tăng thọ y ca-thi-na đã xong.»
Thượng tọa chủ pháp nói:
- Thiện (hoặc: Lành thay).
Tiếp theo đó, Thượng tọa chủ pháp có thể giảng giải các vấn đề liên hệ đến y ca-thi-na, về năm điều lợi ích do hiệu lực của y, về các trường hợp y bị xả, nghĩa là mất hiệu lực v.v…
Sự tác pháp thọ trì y ca-thi-na đến đây là hoàn tất.
5. XẢ Y CA-THI-NA
Xả y ca-thi-na tức y mất hiệu lực, và theo đó, năm điều lợi ích liên hệ đến sự mở rộng điều khoản trong giới bổn của tỳ-kheo cũng mất hiệu lực.
Tổng quát, có hai trường hợp y ca-thi-na bị xả. Thứ nhất, xả toàn bộ, do Tăng tác pháp. Trong trường hợp này hiệu lực của y mất hẳn đối với toàn thể Tăng. Thứ hai, xả cá biệt, tức các trường hợp chỉ liên hệ đến cá nhân một tỳ-kheo.
1. Ra đi: Sau khi y ca-thi-na đã được thọ, tỳ-kheo nào vì nhu cầu cần thay đổi trú xứ, bước chân ra khỏi đại giới của trú xứ với ý nghĩ sẽ không trở lại nữa, với tỳ-kheo ấy ca-thi-na bị xả
2. Y thành: sau khi y ca-thi-na đã được thọ, tỳ-kheo nào mang vải may y của mình ra khỏi đại giới của trú xứ để may, khi may thành, với tỳ-kheo ấy, ca-thi- na bị xả.
3. Y chưa thành: sau khi y ca-thi-na đã được thọ, tỳ-kheo nào mang vải may y của mình ra khỏi đại giới với ý nghĩ không trở lại trú xứ, và dù y chưa may xong, với tỳ-kheo ấy, ca-thi-na bị xả.
4. Mất y: Ra khỏi đại giới, may y xong nhưng bị mất, ca-thi-na cũng bị xả.
5. Mất hy vọng: Ra khỏi giới để đi đến chỗ với hy vọng có được y, nhưng đến đó không có y.
6. Nghe xả: Khỏi giới, hay tin rằng Tăng trong trú xứ đã xả ca-thi-na.
7. Xuất giới: Ra ngoài đại giới để may y, may y đã xong, nhưng hay tin rằng Tăng đã xả ca-thi-na.
8. Đồng xả: Ở ngoài đại giới mà may y, dù xong hay không xong, trở lui về trong giới, cùng Tăng hòa hiệp xả ca-thi-na.
Ba trường hợp cuối cùng tương đương với sự xả toàn bộ, nghĩa là do Tăng yết-ma xả. Nhưng điểm khác biệt là ở đây xả bất thường, tức không đợi mãn hạn kỳ của y, do tình trạng đặc biệt nào đó, Tăng đồng ý hòa hiệp tác pháp xả.
Về tác pháp xả y, họp Tăng và tác tiền phương tiện vẫn hòa theo thông lệ. Yết-ma xả thuộc loại đơn bạch.[24] Văn bạch như sau:
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Ngày hôm nay Tăng hòa hiệp xả y ca-thi-na. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay hòa hiệp xả y ca-thi-na.»
Theo quan điểm của Yết-ma chỉ nam sau khi y ca-thi-na được xả, quyền sở hữu không thuộc về người trì y. Tăng sẽ chọn tỳ-kheo nào có y rách mà cho. Quan điểm này được nói là dẫn từ Thiện kiến. Nhưng Hành sự sao[25] đã tổng hợp Thập tụng và Thiện kiến để nói rằng Tăng chọn tỳ-kheo đủ năm đức và trong số các tỳ-kheo mà ba y đã rách làm người trì y. Như vậy, không có trường hợp Tăng xả y từ người trì y rồi đem cho một tỳ-kheo khác.
[24] Tứ phần 43, ibid. văn bạch nhất yết ma xả. Ngũ phần 23, tr.153c16, văn bạch nhị yết-ma xả: «Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tăng nay xả y ca-thi-na. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận xả y ca-thi-na. Bạch như vậy. Đại đức Tăng, xin lắng nghe, Tăng nay xả y ca-thi-na. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Ai không chấp thuận, hãy nói. Tăng đã chấp thuận xả y ca-thi-na rồi. Vì im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.»
[25] Xem giải thích của Hành sự sao tư trì ký, thượng 4, Đại 40, tr.251c.