Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Yết - Ma Yếu Chỉ

Yết - Ma Yếu Chỉ

Tác giả: Giảng thuật: Thích Trí Thủ, Biên soạn:Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh, Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng. Dịch giả: Thích Trí Thủ. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 360.

Chương 63: 5. Xả y Ca- thi-na (Trang 313 - 316)

«Người thọ trì đã khéo thọ. Trong đây có những công đức và danh dự gì tôi thảy đều có dự phần.»
Tỳ-kheo trì y đáp:
- Nhĩ (hoặc nói: Kính vâng).
Lần lượt như thế cho đến vị tỳ-kheo nhỏ nhất. Trừ các hạng tỳ-kheo không được dự phần như đã kể trên. Sau đó tỳ-kheo trì y trở lại đứng trước Tăng, bạch rằng:
«Bạch đại đức Tăng, tôi nay vì Tăng thọ y ca-thi-na đã xong.»
Thượng tọa chủ pháp nói:
- Thiện (hoặc: Lành thay).
Tiếp theo đó, Thượng tọa chủ pháp có thể giảng giải các vấn đề liên hệ đến y ca-thi-na, về năm điều lợi ích do hiệu lực của y, về các trường hợp y bị xả, nghĩa là mất hiệu lực v.v…
Sự tác pháp thọ trì y ca-thi-na đến đây là hoàn tất.
5. XẢ Y CA-THI-NA 
Xả y ca-thi-na tức y mất hiệu lực, và theo đó, năm điều lợi ích liên hệ đến sự mở rộng điều khoản trong giới bổn của tỳ-kheo cũng mất hiệu lực.
Tổng quát, có hai trường hợp y ca-thi-na bị xả. Thứ nhất, xả toàn bộ, do Tăng tác pháp. Trong trường hợp này hiệu lực của y mất hẳn đối với toàn thể Tăng. Thứ hai, xả cá biệt, tức các trường hợp chỉ liên hệ đến cá nhân một tỳ-kheo.
Về trường hợp xả toàn bộ, theo bản chất, hiệu lực của y ca-thi-na chỉ tồn tại trong thời hạn bốn tháng kể từ ngày thọ. Tức nếu thọ y vào ngày 16 tháng 7 âm lịch, thì đến hết ngày 15 tháng 11 là hết hạn. Ngày đó, nếu Tăng không tác pháp xả, thì khi đến rạng ngày 16 hiệu lực của y cũng tự động được xả mà không cần tác pháp.[21] Tuy nhiên, theo các nhà giải thích luật Tứ phần, nếu thọ y vào ngày tự tứ, tức ngày 16 tháng 7, thì hiệu lực của y sẽ tồn tại trong thời gian năm tháng, đến ngày 15 tháng 12 là hết hạn. Hành sự sao[22] nói rằng, thọ y trong trường hợp này, thời hạn của y tồn tại được 15 ngày. Nếu thọ y vào ngày 16 tháng 8, nghĩa là vào ngày cuối cùng của tháng ca-đề, tức tháng để thọ y, thì thời hạn của y là 120 ngày. Thọ y vào các ngày trung gian giữa hai mốc thời hạn ấy, thời hạn của y cũng theo đó mà tính. Nói cách khác, bất cứ thọ vào ngày nào, thời hạn cuối cùng của y vẫn là ngày 15 tháng 12.
Về xả cá biệt, có tám trường hợp hiệu lực của y được coi là mất đối với một tỳ-kheo.[23]
 

[21] Tứ phần 43, tr.878c21, 27: Hết 4 thàng mùa đông, phải xuất (xả) công đức y. Quá thời hạn công đức y mà không xuất (xả), đột-kiết-la. Cf. Ngũ phần 23, tr.153c11.
[22] Hành sự sao, thượng 4 (Đại 40, tr.44c11).
[23] Tứ phần 42, tr.878c28: khứ 去, cánh 竟, bất cánh 不竟, thất 失, đoạn vọng 斷望, văn 聞, xuất giới 出界, cộng xuất 共出. Cf. Ngũ phần 23, tr.153c8; Thập tụng 29, tr.207c25. Mahāvagga vii. 255: pakkamanantikā, niṭṭhānantikā, san-niṭṭhānantikā, nāsanantikā, savanantikā, āsāvacchedikā, sīmātikkantikā, sahubbhārā.
 
1. Ra đi: Sau khi y ca-thi-na đã được thọ, tỳ-kheo nào vì nhu cầu cần thay đổi trú xứ, bước chân ra khỏi đại giới của trú xứ với ý nghĩ sẽ không trở lại nữa, với tỳ-kheo ấy ca-thi-na bị xả
2. Y thành: sau khi y ca-thi-na đã được thọ, tỳ-kheo nào mang vải may y của mình ra khỏi đại giới của trú xứ để may, khi may thành, với tỳ-kheo ấy, ca-thi- na bị xả.
3. Y chưa thành: sau khi y ca-thi-na đã được thọ, tỳ-kheo nào mang vải may y của mình ra khỏi đại giới với ý nghĩ không trở lại trú xứ, và dù y chưa may xong, với tỳ-kheo ấy, ca-thi-na bị xả.
4. Mất y: Ra khỏi đại giới, may y xong nhưng bị mất, ca-thi-na cũng bị xả.
5. Mất hy vọng: Ra khỏi giới để đi đến chỗ với hy vọng có được y, nhưng đến đó không có y.
6. Nghe xả: Khỏi giới, hay tin rằng Tăng trong trú xứ đã xả ca-thi-na.
7. Xuất giới: Ra ngoài đại giới để may y, may y đã xong, nhưng hay tin rằng Tăng đã xả ca-thi-na.
8. Đồng xả: Ở ngoài đại giới mà may y, dù xong hay không xong, trở lui về trong giới, cùng Tăng hòa hiệp xả ca-thi-na.  
Ba trường hợp cuối cùng tương đương với sự xả toàn bộ, nghĩa là do Tăng yết-ma xả. Nhưng điểm khác biệt là ở đây xả bất thường, tức không đợi mãn hạn kỳ của y, do tình trạng đặc biệt nào đó, Tăng đồng ý hòa hiệp tác pháp xả.
Về tác pháp xả y, họp Tăng và tác tiền phương tiện vẫn hòa theo thông lệ. Yết-ma xả thuộc loại đơn bạch.[24] Văn bạch như sau:
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Ngày hôm nay Tăng hòa hiệp xả y ca-thi-na. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay hòa hiệp xả y ca-thi-na.»
Theo quan điểm của Yết-ma chỉ nam sau khi y ca-thi-na được xả, quyền sở hữu không thuộc về người trì y. Tăng sẽ chọn tỳ-kheo nào có y rách mà cho. Quan điểm này được nói là dẫn từ Thiện kiến. Nhưng Hành sự sao[25] đã tổng hợp Thập tụng và Thiện kiến để nói rằng Tăng chọn tỳ-kheo đủ năm đức và trong số các tỳ-kheo mà ba y đã rách làm người trì y. Như vậy, không có trường hợp Tăng xả y từ người trì y rồi đem cho một tỳ-kheo khác.
 

[24] Tứ phần 43, ibid. văn bạch nhất yết ma xả. Ngũ phần 23, tr.153c16, văn bạch nhị yết-ma xả: «Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tăng nay xả y ca-thi-na. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận xả y ca-thi-na. Bạch như vậy. Đại đức Tăng, xin lắng nghe, Tăng nay xả y ca-thi-na. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Ai không chấp thuận, hãy nói. Tăng đã chấp thuận xả y ca-thi-na rồi. Vì im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.»
[25] Xem giải thích của Hành sự sao tư trì ký, thượng 4, Đại 40, tr.251c.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »