ngày nay do sự tiện lợi của việc ghi chép, vấn đề kiểm điểm Tăng số được tiến hành đơn giản hơn nhiều, và cũng rất chính xác. Bởi vì các tỳ-kheo thường trú trong một trú xứ đều có danh sách cả. Khi dò theo danh sách này, có thể biết ai khiếm diện, có hay không có lý do chính đáng. Ngoài ra, các tỳ-kheo khách từ các trú xứ khác đến, đều có thể thông báo cho người chấp sự của trú xứ sự hiện diện của mình. Vì những lý do như vậy nên hiện nay trong tác pháp yết-ma thuyết giới mục hành xá-la không mấy khi được thực hiện. Người chấp sự của Tăng có bổn phận kiểm điểm Tăng số, rồi trình Tăng biết. Văn tác bạch Tăng số như sau:
«Bạch Đại đức Tăng, hôm nay là ngày… tháng… ngày chúng Tăng thuyết giới. Tôi đã kiểm điểm Tăng số, gồm (bao nhiêu) sa-di và (bao nhiêu) tỳ-kheo.»
5. GỞI DỤC VÀ THUYẾT TỊNH
Sau khi nghe tiếng hiệu kiền chùy, tất cả tỳ-kheo trong cùng trú xứ phải vân tập vào giới trường để nghe thuyết giới, không một ai được phép khiếm diện, trừ những vị có duyên sự đặc biệt, như duyên sự Tam bảo, bịnh nặng, hay phải săn sóc người bịnh. Những vị này phải gởi dục và thuyết tịnh.[29] Gởi dục
[29] Dữ dục và dữ thanh tịnh 與欲 及清淨. Thập tụng 22, tr.160b,c: thủ thanh tịnh và thủ dục 取清淨,取欲. Tại trú xứ chỉ hiện diện 4 tỳ-kheo, khi thuyết giới, không được phép thủ thanh tịnh và thủ dục. Pali: Mahāvagga ii. tr.120: pārisuddhiṃ
nghĩa là gởi ý muốn của mình đến Tăng. Ý muốn ở đây là sự nhất trí của mình về việc Tăng yết-ma thuyết giới.[30] Thuyết tịnh là nhờ người trình lên Tăng rằng mình thanh tịnh, không có phạm học xứ nào. Khi gởi dục, gồm luôn cả thuyết tịnh.
Người nhận dục[31] phải là một tỳ-kheo sẽ hiện diện khi Tăng tác pháp yết-ma thuyết giới. Vị tỳ-kheo nhận dục có thể là hàng Thượng tọa hoặc Trung tọa hay hạ tọa. Nhưng hàng Thượng tọa có thể không nhận dục nếu không muốn; còn các tỳ-kheo khác không được phép không nhận dục. Tuy nhiên, để có sự thuyết dục giữa Tăng không phiền phức, thường việc nhận dục do một tỳ-kheo phụ trách.
Thời gian để gởi dục và thuyết tịnh được thực hiện trong khoảng từ khi ánh sáng ban mai bắt đầu cho đến khi Tăng tác pháp. Nếu gởi dục xong mà sau đó người gởi dục mới ra khỏi phạm vi cương giới của trú xứ, trong lúc Tăng đang thuyết giới thì sự thuyết dục bất thành. Chỉ cần bước ra khỏi các đường ranh của trú xứ là việc thuyết dục đã bất thành, chứ không đợi phải đi đâu xa.
dātuṃ, cáo tri sự thanh tịnh; op.cit. 121, chandaṃ dātuṃ, «cho ý muốn.»
[30] Tứ phần 18, tr.687, ba-dật-đề 76: tỳ-kheo đã gửi dục, sau khi Tăng đã yết-ma, lại phủ nhận, phạm ba-dật-đề. Cf. Ngũ phần, ba-dật-đề 79, Tăng kỳ, ba-dật-đề 43, Căn bản, ba-dật-đề 53; Pali: ba-dật-đề 79.
[31] Thọ dục nhân 受欲人. Pali: chandahārako.
Việc gởi dục tổng quát có hai cách: bằng lời nói hoặc bằng cách ra dấu. Tức là, nếu người bịnh nặng không nói được, khi muốn gởi dục chỉ cần phát biểu một cử chỉ nào đó, bằng cách đưa tay ra dấu hay lấy mắt ra dấu, hay ra dấu bằng bất cứ động tác nào của thân thể, để người khác biết rằng mình muốn gởi dục. Văn gởi dục, muốn nói vắn tắt hay nói đầy đủ tùy ý, tùy hoàn cảnh của mình. Văn gởi dục đầy đủ được nói như sau:
«Đại đức nhất tâm niệm. Tôi tỳ-kheo… vì (duyên sự). Tăng sự như pháp, xin gởi dục và thanh tịnh.» (nói một lần)
Người nhận dục đáp: Thiện.
Người gởi dục nói: Nhĩ.
Trường hợp tỳ-kheo bịnh nặng, cho đến cả việc ra dấu để gởi dục cũng không làm được, thì thế nào?
Theo luật chế,[32] Tăng phải cho người khiêng tỳ-kheo bịnh ấy vào giới trường. Nếu không thể khiêng, vì sự dao động làm đau nhức người bịnh và không có cách nào khác hơn nữa, thì Tăng phải ra khỏi phạm vi cương giới của trú xứ, kết tiểu giới mà thuyết giới. Nếu không có cách nào khác, thì không có thể biệt chúng thuyết giới. Sự việc này có mục đích tránh bất cứ dấu hiệu chia rẽ nào có thể xảy ra giữa Tăng.
[32] Tứ phần 36, tr.821c23 . Cf. Mahāvagga ii. tr.120, 122.