giới. Cúi nguyện Tam bảo tồn tại lâu dài trong thế gian để cứu vớt chúng sanh.
«Nay Tăng bố-tát, diễn thuyết Đại tỳ-ni, là pháp tối tôn, tối thắng, mầu nhiệm, là việc mà chúng con chưa được dự phần. Bởi vì chúng con tuổi đời còn thiếu, chướng ngại giới pháp chưa sạch, cho nên không dám dự vào địa vị Tăng luân thanh tịnh. Nay chúng con cúi đầu đảnh lễ đại Tăng. Nguyện Tăng từ bi, bố-tát hoan hỷ.»
Thượng tọa giáo giới:
«Này các sa-di, nay chúng Tăng bố-tát thuyết giới. Các ngươi chưa thọ cụ túc nên chưa được dự nghe. Vậy hãy lui ra ngoài, theo phận sự của sa-di mà tụng đọc giới luật. chờ khi nào đánh khánh làm hiệu gọi vào. Hãy thứ tự trở lại giới trường. Cẩn thận chớ buông lung.»
Các sa-di đồng thanh đáp:
«Y giáo phụng hành.»
Đảnh lễ đại Tăng ba lạy, rồi lui khỏi giới trường. Cùng nhau đến một chỗ khác, tụng đọc giới kinh của sa-di. Chờ khi nghe tiếng khánh, Tăng gọi thì trở lại giới trường để dự nghe phần cuối trong giới kinh của tỳ-kheo.
3. YẾT MA THUYẾT GIỚI
Thượng tọa tác pháp yết-ma thuyết giới, hỏi:
«- Tăng đã họp chưa?»
Duy na đáp:
«- Tăng đã họp.»
«- Hòa hiệp không?»
«- Hòa hiệp.»
«- Người chưa thọ cụ túc đã ra chưa?»
«- Đã ra.»
«- Các tỳ-kheo không đến có thuyết dục và thanh tịnh không?»
Nếu không có ai gởi dục và thanh tịnh thì đáp:
«- Không.»
Nếu có, người thọ dục bước ra, lễ Tăng và bạch:
«Bạch Đại đức Tăng, con có nhận dục và thanh tịnh của tỳ-kheo… Tăng sự như pháp, tỳ-kheo ấy xin gởi dục và thanh tịnh.»
«Thiện.»
«Nhĩ.»
Thượng tọa hỏi tiếp:
«Có ai sai tỳ-kheo-ni đến thỉnh giáo giới không?»
Nếu có người thọ chúc, thì bước ra lễ Tăng, và trình lại thỉnh cầu của ni chúng, như đã nói ở trên. Nếu ni trực tiếp thỉnh thì cho gọi vào.
Các tỳ-kheo-ni thọ sai đảnh lễ Tăng ba lạy, quỳ xuống và bạch:
Ni thọ sai đáp:
«Y giáo phụng hành.»
Sau khi ni thọ sai đảnh lễ Tăng và ra khỏi giới trường, Thượng tọa hỏi tiếp:
«Đại đức Tăng (nói tên chùa ni) tỳ-kheo-ni Tăng thanh tịnh hòa hiệp, Tăng sai tỳ-kheo-ni chúng con (…) đến trước đại Tăng, đảnh lễ Tăng cầu thỉnh giáo thọ sư. Ngưỡng mong Tăng vì ni chúng giáo giới. Từ mẫn cố.» (nói ba lần)
Nếu không có tỳ-kheo nào đảm nhiệm việc giáo thọ ni, Thượng tọa nói với các tỳ-kheo-ni thọ sai:
«Nay lần lượt thỉnh cầu khắp trong Tăng từ trên xuống dưới, nhưng không ai đảm nhiệm việc giáo thọ ni. Tuy nhiên, Tăng có giáo sắc rằng, ni chúng hãy y luật hành trì, cẩn thận chớ buông lung.»
Ni thọ sai đáp:
«Y giáo phụng hành.»
Sau khi ni thọ sai đảnh lễ Tăng và ra khỏi giới trường, Thượng tọa hỏi tiếp:
«- Tăng nay hòa hiệp để làm gì?»
«- Yết-ma thuyết giới.»
Ngay đây, nêú có tỳ-kheo đang hành pháp phú tàng, thì duy na gọi vị ấy ra đảnh lễ Tăng, và trình Tăng rằng mình đang hành pháp phú tàng. Sau đó trở về chỗ cũ để nghe thuyết giới.
Thượng tọa bạch yết-ma:[49]
«Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Hôm nay là ngày… tháng… ngày bố-tát, chúng Tăng thuyết giới. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng; Tăng nay chấp thuận hòa hiệp thuyết giới. Đây là lời tác bạch.
«Thưa các Đại đức, nay đang là mùa (xuân). Mùa này có sáu kỳ (hoặc tám kỳ nếu có tháng nhuận) bố-tát. Trong nửa tháng này, một kỳ bố-tát đang đi qua; có hai kỳ bố-tát đã qua và còn ba kỳ bố-tát sắp đến. Mong các đại đức ghi nhớ như vậy. Tuổi già và sự chết đang gần kề, Phật pháp sắp tàn diệt. Thưa các đại đức, vì chí cầu đắc đạo, hãy nên nhất tâm cần cầu tinh tấn. Vì sao vậy? Chư Phật do nhất tâm cần cầu tinh tấn mà chứng đắc Vô thượng Bồ đề, huống nữa là các thiện pháp khác. Mỗi người trong lúc đang khỏe mạnh, hãy nỗ lực tu thiện; sao lại không cần cầu, đâu thể đợi đến già, ham muốn nào vui chi? Ngày nay đã qua, mạng sống lần giảm, như cá thiếu nước nào có vui gì?[50]
[49] Văn Yết-ma thuyết giới, có vài chi tiết bất đồng giữa các bộ. Xem, Di-sa-tắc Ngũ phần giới bản, Đại 22, tr.194c; Ma-ha Tăng-kỳ luật Đại tỳ-kheo giới bản, Đại 22, tr.549a; Tứ phần giới bản, Đại, 22, tr.1023a; Thập tụng tỳ-kheo Ba-la-đè-mộc-xoa giới bản, Đại 23, tr.470b.
[50] Đoạn này phỏng theo Ngũ phần tỳ-kheo giới bản, ibid., và Thập tụng tỳ-kheo giới bản, ibid.
«Thưa các Đại đức, nay tôi sẽ nói ba-la-đề-mộc-xoa. Các Đại đức hãy lắng nghe, khéo ghi nhớ kỹ. Nếu tự biết mình có phạm, hãy nên bày tỏ sám hối. Ai không phạm thì im lặng. Do sự im lặng mà tôi biết các đại đức thanh tịnh. Cũng như một người được ai hỏi điều gì thì phải theo sự thực mà đáp. Cũng vậy, tỳ-kheo nào ở trong chúng đã ba phen hỏi, nhớ nghĩ mình có phạm mà không phát lộ, tỳ-kheo ấy đắc tội cố ý vọng ngữ. Đức Phật dạy hành sự cố ý vọng ngữ là pháp chướng đạo. Tỳ-kheo nào nhớ nghĩ mình có tội, muốn cầu sự thanh tịnh, cần phải phát lộ. Phát lộ thì an lạc.
«Thưa các Đại đức, tôi đã nói xong phần tựa. Nay hỏi các Đại đức trong đây có thanh tịnh không? (hỏi ba lần)
«Các Đại đức trong đây thanh tịnh, vì im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.»
Tiếp theo nói tất cả chi tiết từ bốn ba-la-di cho đến bảy pháp diệt tránh. Cuối cùng nói lời kết.
«Thưa các Đại đức, tôi đã nói xong tựa giới kinh, đã nói bốn pháp ba-la-di, đã nói mười ba pháp Tăng-già bà-thi-sa, đã nói hai pháp bất định, đã nói ba mươi pháp ni-tát-kỳ ba-dật-đề, đã nói xong chín mươi pháp ba-dật-đề, đã nói bốn pháp ba-la-đề-đề-xá-ni, đã nói các pháp chúng học, đã nói bảy pháp diệt tránh. Đây là những điều Phật dạy, được ghi chép
thành Giới kinh, mỗi nửa tháng tụng một lần. Còn có các Phật pháp khác nữa trong đây tất cả đều phải cùng hòa hiệp, cùng học tập.»
Tiếp theo trước khi đọc các bài kệ giới kinh của bảy đức Phật thì đánh hiệu gọi các sa-di vào để nghe tiếp các bài kệ tán thán sự trì giới:
Kẻ trí khéo giữ giới,
Hay được ba điều vui:
Danh dự và lợi dưỡng,
Khi chết được sanh thiên.
…
Tôi nay nói giới kinh
Công đức thuyết giới này,
Ban khắp cả chúng sinh
Đều trọn thành Phật đạo.