Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tìm Hiểu Đạo Phật

Tìm Hiểu Đạo Phật

Tác giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Dịch giả: KHANTIPALO - Tỳ-kheo Thích Chơn Thiện. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 282.

Chương 18: Ba căn bản bất thiện (Trang 112 - 116)

Tại sao sự hư giả, man trá, ngu muội thắng
                                                     thế?
Tại sao hư dối thắng thể - chân lý và công
                                              lý thất bại?
Tôi kể Phạm thiên của bạn là một trong
                                             những kẻ bất công
 Đã tạo ra một thế giới để che chở cho những
                                            gì sai quấy!
                                     ( Bhuridatta Jātaka,số 543)
 Quyền lực của Thượng đế càng nhiều thì khả năng càng làm điều thiện hay bất thiện của con người càng ít, như các thuyết định mẹnh tuyên bố, đã là một sự khiêu khích đối với những dòng chữ này:
" Nếu có một đấng toàn năng nào đó
Trút vào trong mỗi sinh linh niềm hạnh phúc
hay nỗi thống khổ, và hành động thiện hay
ác
Thì đấng ấy phải chuốc lấy tội lỗi.
Con người chỉ làm theo ý muốn của Ngài".
                              (Mohabohdi Jātaka, số 528)

 
Ba căn bản bất thiện
Bất cứ khi nào khảo sát một giáo lý của đức Phật, người ta cũng tìm thấy nó là một con đường chỉ
dẫn con người xét cái tâm (1), từ góc cạnh này hay góc cạnh khác. Sở dĩ như thế là vì tâm là nền tảng cho mọi kinh nghiệm: khi những trạng thái bất chính hay bất thiện của tâm có mặt thì người ta kinh nghiệm sinh tử; khi các trạng thái tâm đó vắng mặt,  và với sự phát triển của trạng thái tâm thiện thì người ta có thể biết được các hỷ lạc của tâm thức ở cõi trời; cuối cùng sau khi dùng gươn Trí tuệ mà tách mình ra khỏi cả sự ham muốn thiện, người ta sẽ thể hội niềm Hỷ lạc siw6u thế bất khả thuyết của Niết bàn.  Có phải con người khổ đau vì vẫn tiếp tục lang thang trong sinh tử? Hay con người là biểu hiện Tối thắng Thanh tịnh, Trí tuệ và Từ bi trong mọi hành động như một Bậc Giác ngộ? Một bên là tâm không tu tập chút nào, một bên là tâm chứng đạt một sự chuyển biến vô cùng lớn lao trong vận hành mà dù người ta có thể bảo một vị giác ngộ thủ đắc các năng lực tâm thức như thế này thế nọ; thực ra vị ấy ở ngoài mọi sự xếp hạng.
Trong Giáo lý Phật giáo, có nhiều sự phân loại các trạng thái tâm thức với những yếu tố tâm thức khác nhau. Chủ đích các giáo lý này là nhằm thúc đẩy cho sự phân tích tâm lý cần được thực hiện để

 

(1) Tâm tiếng anh là "mind" không thích hợp lắm với từ Pali: citta. Tất cả các quá trình tâm thức và tình cảm đều gồm trong citta và citta gồm bốn uẩn thuộc tâm thức là: Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Cần phải nhớ điều này khi nói về " tâm" trong một văn mạch Phật học.
 
nhanh chóng khám phá và phá hủy các bất thiện tâm và để phát triển mạnh mẽ các thiện tâm, hỗ trợ cho Định và Tuệ.(1) Tác động thực sự của loại tâm lý thực dụng này không thể đề cập đến ở đây, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng đấy là nỗ lực để nêu định những trạng thái tâm thức sinh động bằng những khái niệm hữu ích khác hẳn với những ý niệm tĩnh như " tâm", " linh hồn", v.v.
Những kinh nghiệm mà phần lớn người ta xem như là những hiểu biết " bình thường" thực ra vặn vẹo nhiều hay ít bởi ý nghĩa về " tôi" và về những gì ở bên ngoài "tôi". Nơi nào có sự phân biệt này thì có nhị biên và ở đó có Tham ( những gì "tôi" muốn và thích), Sân ( những gì tôi không thích hay không muốn), và Si ( cái vô minh căn bản về những điều sai trái, bao gồm cả hai thái độ " tôi không biết" và " tôi không muốn biết"). sự vặn vẹo này không những gây ra những nhận thức sai lầm về thế giới thật đúng như nó, mà còn gây ra sự kiện thế giới bị " biến chế bởi cái tôi", tức là thế giới bị tô quét

 

(1) Tưởng cũng cần nhấn mạnh rằng Phật giáo không có cái " triết lý" nào tách ly với sự tu tập hay thực hiện triết lý ấy. Cái triết lý như thế vì thiếu căn bản vững vàng về Giới, Định và Tuệ, và thể hiện những quan điểm hiện nay của một số triết gia, nên thực sự chẳng có chút gì triết lý, và chỉ là những mẫu loại suy diễn mà thôi. Các nhà triết học Phật giáo kể từ đức Phật đến nay đã luôn luôn thực hiện triết lý của mình đến mức cao nhất trong mọi tình huống của cuộc sống và đã luôn luôn mong muốn những người theo mình nổ lực làm như thế.
bằng những khuôn mẫu đặc thù của tư tưởng và ký ức, mà khi người ta nối kết quá khứ với hiện tại và rồi hiện tại với những gì mong chờ ở tương lai, thì những khuôn mẫu ấy tạo nên cái ảnh tượng tâm thức của chính tự mình. Chính ảnh tượng ấy làm ngăn ngại sự thấy rõ hay Tuệ quán, vì chúng ta mãi mãi thấy thế giới qua cặp kính được " nhuộm màu bởi cái tôi". Thế giới ấy hình như nhiều hay ít xoay quanh ta, có nghĩa là, hết thảy các sự vật được nhận thức qua các giác quan (gồm cả ý căn) thì bằng cách nào đó cũng tự động liên hệ với cái " tôi". Hoặc là người ta hiểu các sự vật như là một phần của tôi, thuộc về " tôi", được cảm thọ bởi " tôi", được mong muốn bởi "tôi", bị ghét bỏ bởi "tôi", là khác với "tôi" - hoặc là hiểu các sự vật bằng những quan hệ phủ định như không phài "tôi", v.v. Cái " ngã tâm" gây ra sự vị ngã hay sự qui ngã là kinh nghiệm của những ai không hiểu biết về Tối Thắng Tuệ, là cuội nguồn khổ đau của chúng ta vì nó mang theo lòng ham muốn, sự ghét bỏ và sự thờ ơ buốn chán, toàn là những thái độ tình cảm khiến ta không thể tìm thấy hạnh phúc chân thật và lâu dài.
Lòng tham có thể dự phần vào sự hỷ lạc tạm thời, nhưng một khi con người đã đạt được đối tượng ham muốn của mình thì cái ham muốn chấm dứt, và niềm hỷ lạc xuất pháp từ đối tượng ấy, vốn cũng
luôn luôn ít nhiều mong manh như đối tượng ấy thì thế nào cũng là vô thường.
Si, ở mọi cấp độ của nó là cách thức hữu hiệu nhất, để hủy diệt hạnh phúc và tạo ra khốn khổ. Sự giận mình hay các người khác đều sản sinh nhiều khổ đau và sự ghét bỏ các sự vật hay hoàn cảnh cũng không giúp con người đi đến hạnh phúc. Một người luôn luôn phát triển giận dữ (vân vân) tự tách mình khỏi loài người ( đúng ra là mọi chúng sinh khác) là người nuôi lòng chua chát, và đang chất chứa cho mình nghiệp rất xấu mà hậu quả là sự khổ đau lớn lao cho mình trong tương lai.
Sự đần độn hay Si muội  ngăn chặn con người thấy những gì thực sự đưa đến hạnh phúc và những gì đưa đến khổ đau. Dù cho toàn bộ con đường đưa đến Toàn thiện của đức Phật được giải thích rõ ràng và sáng sùa như một tấm bản đồ chi tiết trải ra trước mắt một người đang đau khổ, đặc biệt do chứng si mê này, người ta không hiểu được nó.
Ba thứ Tham, Sân , Si  được gọi là các Căn bản Bất thiện, vì từ chúng, riêng lẻ hay tập hợp, mà gọi là trạng thái bất thiện phát sinh. Chúng cũng được gọi là những căn bệnh, và theo tâm lý học Phật giáo, kẻ nào để cho Tham, Sân, Si khởi lên và nảy nở trong tâm họ đều là những kẻ bệnh hoạn về tâm thức. Mọi nơi, người ta đều giữ kỹ người mắc bệnh thần kinh trong các bệnh viện, cách biệt những
/55
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »