Về sự liên hệ của hai triền cái hơn, hôn trầm và trạo cử đối với các căn tánh khác nhau này thi hôn trầm có chiều hướng được cảm thọ bởi những người có căn tánh mạnh nhất về Tham, Tín và Si. Ba căn tánh còn lại là Sân, Linh lợi và Phóng động thì bén nhạy hơn và mối ngăn ngại cho thiền định của ba căn tánh này là con quỷ trạo hối ( xao lãng).
Các phương pháp tu tập thật sự chưa được nêu ra trong cuốn sách có tính cách giới thiệu này. Tổng số tài liệu về phương pháp này rất nhiều, các kỹ thuật thiền quán quả thực làm ta choáng váng. Các Phật tử đã đặc biệt nghiên cứu ngành tri thức tôn giáo này suốc 25 thế kỷ qua. Những ai lưu tâm muốn tìm cho mình những lợi ích của một cái tâm thuần hóa thì sau khi đã qui y Phật, Pháp và Tăng, nên tìm một đạo sư tốt cho sự lưu tâm ấy, đến vị sư ấy và theo nghi lễ truyền thống mà xin được nhận làm đệ tử. Bây giờ đối với các đệ tử, vị Đạo sư thay mặt cho Đức Phật nên người đệ tử tôn kính người và những lời dạy của người mà phải tinh cần thực hiện những lời dạy ấy. Sau đó thay vì đọc sách về Phật Pháp, người ta có thể đi đến thể nghiệm các chân lý của Phật Pháp trong tâm thức mình.
Lời chỉ dẫn thực tiễn cho những người tu thiền:
Chuyển đổi từ phương diện vật lý qua phương
diện thực hành, thiền định được dành cho Cư sĩ có thể được chia ra hai loại: Loại để tu tập chuyên thâm và loại để tu tập trong sinh hoạt hằng ngày. Loại thiền định để tu tập chuyên thâm cũng gồm hai loại: ngồi tu đều đặn hằng ngày và tu theo từng thời kỳ. Trước tiên ta bàn về loại ngồi tu đều đặn hằng ngày, loại này nên được thực hiện vào cùng một lúc nhất định trong mỗi ngày nếu có thể được. Người ta nên giữ ý chí nghiêm túc và hết sức ý thức rằng tại sao ta ngồi thiền như thế, để tránh cho việc ngồi thiền bị trở thành một nghi lễ. Những đề nghị sau đây cũng có thể hữu ích.
Về các vấn đề vật chất, chỗ hành thiền định cần khá yên tĩnh. Nếu người ta có được một căn phòng nhỏ có thể dùng cho việc tọa thiền thì sẽ tốt hơn nhiều và trong mọi trường hợp, tốt hơn nên tọa thiền một mình, nếu không phải là những thành viên khác trong gia đình cùng tụ tập. Trong trường hợp phải ngồi thiền chung như vậy, ta cần phải làm sao để chắc chắn rằng tâm mình thanh tịnh và bình lặng, cả đối với những người khác nữa. Nếu không thì Tham, Sân và cả tam kiết sử còn lại sẽ đánh trộm mất kết quả thiền định.
Người ta dễ đạt sự vắng lặng nhất khi thức dậy sớm trước khi những người khác dậy, và đây cũng là lúc tâm trong sáng và thân thể khỏe khoắn. Do đó người tu thiền định chân chính giữ giờ giấc đều đặn
vì người ấy biết cần ngủ vừa đủ để cảm thấy tươi mát. Sai khi thức dậy và tắm rửa, người ta nên ngồi vào chỗ tọa thiền với quần áo rộng rãi và sạch sẽ. Người ta có thể có một bàn thờ nhỏ với các ảnh tượng Phật giáo nhưng điều này không phải là thiết yếu. Một số người nhận thấy bàn thờ là cần, để mở đầu bằng việc dâng hoa, hương và đèn ( xem chương Một) mả trầm tư trong khi làm thế. Ở các xứ Phật giáo người ta thường mở đầu thiền quán yên lặng của mình bằng cách tụng linh êm ái cho chính mình nghe:
" Namo tassa Bhavagato Arahato Samàsam- buddhassa" ( Nam mô Như Lai Ứng cúng Chánh biến tri ) với lời tụng quy y và giữ Giới.
Một sự mở đầu hữu ích khác là lời tụng đọc có tính chất tản mạn về vài chân lý của Phật Pháp như đoạn được nêu dưới đây:
" Có cơ hội quý báu được sanh làm người như thế này, tôi có hai trách nhiệm trong Phật Pháp; Lợi ích của chính tôi và lợi ích của những người khác. Hết thảy mọi loại chúng sanh khác hoặc là nhân hoặc là phi nhân, hữu hình hay vô hình, lớn hay bé, xa hay gần, tôi sẽ đối đãi hết thảy với chúng sanh bằng sự nhu hòa và mong rằng họ được an trú trong tịnh lạc. Mong rằng họ được hạnh phúc... Tôi sẽ giúp đỡ họ khi họ bị đau khổ, và tôi sẽ sung
sướng cùng họ khi họ hạnh phúc. Mong rằng tôi phát triển được xả ly hay vô tỷ, tâm hoàn toàn quân bình, không bao giờ có thể bị rối loạn.
" Khi nhìn sự an lạc của người khác, tôi sẽ không quên sự tiến bộ của riêng tôi trên con đường Phật Pháp. Mong rằng tôi thực sự biết được tôi sẽ cưu mang vô lượng kiếp sống trong mọi cảnh giới hiện hữu vì bị đẩy đưa đây đó bởi những cơn gió nghiệp chướng của tôi như thế nào. Tôi cũng phải quay tâm mình lại nhìn xem cuộc đời ngắn ngủi và mong manh như thế nào. Tâm và thân luôn luôn thay đổi, sinh khởi và suy tàn từ lúc này sang lúc khác như thế nào. Tâm hay thân đều không phụ thuộc vào tôi, không có thứ nào trong hai thứ ấy là của tôi như thế nào? Tôi cũng phải quay tâm để xem xét cuộc đời ngắn ngủi này bị các phiền não vây hãm như thế nào. Sau khi đã bị tạo hình do tham ái và sinh ra do vô minh, tôi phải nhận thức rằng cái chết là không thể tránh khỏi được, rằng tuồi già và bệnh tật là tự nhiên đối với thân phận tôi, vì điều thiện cho tôi và cho tha nhân. Tôi phải nỗ lực nhận thức rằng cái con người gọi là " tôi" này là một sự hỗn hợp của tâm lý và vật lý, ở trong đó không có một thực thể thường hằng như linh hồn hay tự ngã.
" Mong rằng qua sự tu tập này, tôi kinh nghiệm sự liễu kiến về Vô thường, Khổ và Vô ngã! Mong rằng tôi sẽ là kẻ chứng nghiệm được lẽ Không! Và
sai khi chứng nghiệm được chân lý cao cả này, mong rằng tôi sẽ trỏ Con Đường cho những người khác!".
Khi ngồi, cần phải lưu ý để được thư thái ngay mà giữ cho thân thể ngay thẳng. Không nên có sự căng gân mà để cho đầu gục xuống hoặc vùng lưng cong rũ. Thân thể phải cảm được sự thẳng đứng vững vàng, cân đối. Dùng thế ngồi tréo chân ( như thế liên hoa - tức kiết già) là tốt nhất khi thiền giả ngồi trên một tấm thảm khá mềm, những người không quen với thế liên hoa hay không thể tập cho mình ngồi thẳng người theo cách ấy vẫn có thể ngồi trên ghế. Ngồi theo thế liên hoa kiết già ( hay bán liên hoa, tức bán già) sẽ cảm thấy dễ dàng hơn nhiều, nếu có lót một cái gối hơi cứng để nâng bàn tọa lên. Bây giờ hai đầu gối sẽ sát với nền và thế là có được một thế ngồi ba điểm tựa vững chắc ( hai đầu gối và bàn tọa).
Ta nên ngồi trong cùng một khoảng thời gian bao lâu đó mỗi ngày cho đến khi ta trở nên thông thạo trong việc tập trung tư tưởng, và sẽ tự động cảm thấy thích kéo dài thời gian thực hành: Một phương pháp được sử dụng rộng rãi để định khoảng thời gian ngồi thiền là ngồi trong khoảng thời gian cần cho một cây hương cháy tàn. Sau khi đặt hai bàn tay theo thế ngồi thiền, nghỉ ngơi trên đùi, mắt có thể kiếp khép lại hay hé mở tùy theo mình cảm thấy cách
nào thuận tiện nhất.
Các phương pháp được dùng để tập trung tâm thì rất nhiều và chúng tôi chỉ nêu vắn tắt một số ít các phương pháp thiền định cổ điển ở phần trên đây. Các phương pháp hữu ích khác gồm sự lập đi lập lai một từ hay một câu và có thể dủng thêm chuỗi hạt nữa. Nếu người thực hành Chánh niệm về hơi thở, một số người có thể dùng một từ như " Bud-dha" ( Phật) " Araha" (Ala hán) là những từ rất tốt cho việc lằng tâm. Âm đầu ( Bud) được lập lại một cách yên lặng khi hít vào, và ta tập trung vào âm thứ hai (dha) khi thở ra. Chi khi nào thiền định đặt vào mộ câu thì ta mới dùng chuỗi hạt, mỗi lần lập lại câu được ghi dấu bằng một hạt.
Thiền định được thực hành tốt nếu người ta tìm thấy tâm càng lúc càng nhập vào đề tài thiền quán đã chọn, nhưng ta không nên cho rằng thiền định vô ích vì quá nhiều tháng ta vẫn cảm thọ hôn trầm hay trạo cử. Để thành công, cần phải có sự kiên trì mạnh mẽ và nỗ lực đều đặn.
Thời ngồi thiền có thể kết thúc bằng một bài tụng, đề tài bài tụng thông thường là mong sự sống an lành cho những người khác và hồi hướng công đức cho họ. Bản dịch hay nguyên bản Pali của kinh Metta ( kinh Từ ái) có thể tụng đọc dễ dàng vào lúc này vì nó không dài và có thể dễ nhớ.
Nhân nói về việc tụng đọc, ta nên thuộc một số pháp ngữ của Đức Phật bằng một trong các cổ ngữ và dùng các pháp ngữ ấy để nhiếp tâm trong trường hợp không thể tập trung tư tưởng được. Vào lú như vậy, một thiền giả không nên ngã lòng mà cấn tiếp tục ngồi và tụng nhỏ cho mình nghe. Đấy là một việc mà nhiều tu sĩ Phật giáo làm hai lần trong một ngày như là một phần trong sự phát triển tâm thức của các vị ấy và điều ấy hữu ích cho việc nuôi dưỡng việc trở nên tín thành hơn, cũng như cần thiết để tạo sự quân bình đối với các căn tính linh lợi. Một phương pháp hữu ích nữa để thắng việc trạo hối ( xao lãng) là hành thiền bằng cách đi bộ, có thể thực hiện ở mọi chặng đường hay trong một lối đi vắng ở trong vườn. Một khoảng dài chừng 20 hay 30 bước là vừa đủ vì nếu dài hơn thì tâm có khuynh hướng chạy lang thang, còn nếu ngắn hơn thì trạo hối có thể gia tăng. Người ta cần đi đến tốc độ mà mình cảm thấy là tự nhiên, hai tay khoanh lại đằng trước.
Ở đây thiết trưởng nói vài lời về lòng tín thành cũng không đến nỗi ngoài đề, ví nó rất cần thiết cho sự tu tập thiền định. Không có ai không phải là Phật tử tín thành mà thực sự có thể hành thiền Phật giáo vì lý do đơn giản là người ấy không có lý tưởng Đạo Phật trong lòng. Sự nhiệt thành đối với Tam Quy và hiểu biết về Tam Bảo liên hệ chặt chẽ với thiền định Phật giáo. Một Phật tử thật sự nhiệt thành dành
trọn đời mình vào Phật pháp sẽ không có những khó khăn nào mà không thể vượt qua trong sự tu tập thiền định. Gặp bất cứ chướng ngại nào, vị ấy cũng vượt qua được nhờ lòng nhiệt thành hỗ trợ. Vị ấy được chuẩn bị để đi trên Con Đường dài và khó bởi vì vị ấy hiểu rằng mình đã làm cho nó như thế. Nếu vị ấy cảm thấy Con Đường của mình bị ngăn chặn, rằng thiền định của mình không tiến bộ và mình không có Thiền sư, vị ấy không nhân đó mà dao động, e ngại. Vị ấy nghĩ rằng: " Ta nay đang cảm nhận các hậu quả của các hành động có tác ý (nghiệp) mà ta gây ra trong quá khứ." Và vị ấy nhớ lại lời dạy cuối cùng của Đức Phật: " tất cả các Pháp hữu vi đều phải bị hội diệt, với Chánh niệm hãy tinh tấn lên." Mọi khó khăn đều là pháp hữu vi và cuối cùng sẽ thay đổi, trong khi có thể làm được nhiều điều với chánh niệm, tinh cần và nhiệt tâm.
Nếu chúng ta không quá mệt mỏi sau công việc và nếu có cơ hội vào buổi tối, thì bấy giờ có thể thực hiện thêm một thời tọa thiền. Dù ở trường hợp nào, trước khi đi ngủ nếu ta ngoài thiền được chừng ít phút để thanh tịnh tâm trước khi nằm xuống thì thật tốt. Ta nên quán như vầy: " Khi tôi nằm xuống, không có gì chắc chắn là tôi sẽ thức dậy." Do vậy ta có thể nằm xuống mà chết và điều này là một sự niệm tưởng tốt để khởi lên các trạng thái thiện của tâm và xua tan những trạng thái cảm giác bất thiện.
Nếu ta thực hành "nằm xuống mà chết" này, nó sẽ là một chuẩn bị tốt cho một sự kiện thực sự bắt buộc sẽ xảy ra một lúc nào đó trong một tương lai chưa được biết. Phương pháp này tạo ra những điều kiện chính đáng để là sinh khởi tuệ kiến cho phép người ta "chết" mà từ bỏ chất thử những gì không thuộc về mình, đó là tâm và thân. Cũng vào lúc này, một pháp ngữ hay một từ có thể được dùng để lập đi lập lại cho đến khi sau cùng chúng ta đi vào giấc ngủ. Bằng cách này chúng ta kết thúc và bắt đầu một ngày bằng sự tu tập các Giáo lý Đức Phật. Và còn gì quý hơn việc quy hướng một ngày trọn vẹn của ta cho những lời Phật Pháp?
Bây giờ nói đến loại thứ hai của việc tu tập chuyên thâm, đó là sự nhập thất, việc này sẽ tùy thuộc vào những tiện nghi có thể có được đối với thiện sinh nhiệt tâm. Hiện nay ở phương Tây, người ta có thể tìm thấy vài nơi giảng dạy Thiền định. Điều quan tròng là tiếp xúc trực tiếp với vị thiền sư có kinh nghiệm (sách vở chỉ giúp trong buổi đầu và ngay cả sở chú sẽ cũng bị phát giác những khuyết điểm mặt này mặt nọ). Sau khi đã thỏa được điều kiện ấy, còn một điều kiện độc nhất nữa rất cần thiết là: phải nổ lực tinh thần tu tập và thực hiện các lời dạy của thiền sư. Nếu hai điều kiện này được trọn vẹn thì ta là người may mắn nhất trong nhân loại.
Nhiều người không gặp được vị thầy và vài người muốn thử một thời gian thiền định một mình ở một nơi nào yên lặng trong xứ. Việc này chỉ nên thực hiện nếu ta đã phát triển được một niệm lực tốt. Nếu không, cái gọi là nuôi dưỡng thiền định có thể trở thành thời gian vô ích và không chừng còn bị kèm theo một sự tăng cường ô nhiễm của tâm.
Về loại tu thiền được thực hiện trong sinh hoạt hằng ngày dù đã được viết nhiều, mấy lời sau đây có thể được xem là một sự chỉ dẫn. Trước tiên, chúng ta không được nói với mình về định lực của tâm. Thật là vô ích nếu chúng ta bị lừa dối mình hoặc tuyên bố với người khác rằng cuộc sống hằng ngày của chúng ta là thiền định của chúng ta, tất nhiên trừ khi chúng ta có sẵn những năng lực lớn về thiền định. Chỉ có người tu lão luyện thực sự, thường thường người ta đã ngồi nhiều năm, giữ giới luật, mới có thể thực sự nhận biết được cuộc sống hằng ngày là thiền định, và một người như thế chẳng bao giời thích nói với người khác về sữ kiện đó, không cho phép sự kiêu mạn làm méo mó thực trạng tâm lý, chúng ta cần kiểm điểm vô tư và chấp nhận những hạn chế của mình. Điều này đã là một bước tiến lớn. Người cư sỹ nào nghĩ rằng mình đã là một A-la-hán là đã ngăn chận hẳn mọi tiến bộ thực sự, trong khi một người ngay thật ít nhất cũng có được trí tuệ để khiêm tốn.
Nhiều việc có thể thành tựu nhờ Chánh niệm, trong khi không có chánh niệm thì không có hy vọng hành thiền trong đời sống hằng ngày. Làm sao mà những sự kiện thật tầm thường lại có thể làm thành đề tại thiền định? Đó là do chú tâm, mà chú tâm trước tiên có thể được là "sự tỉnh giác về công việc đang làm trong hiện tại". Trước tiên, phải nổ lực nhiều để giữ được sự chú tâm về những gì ta đang làm và cũng không nên cho rằng chú tâm là điều luôn luôn thích thú. Để thoát khỏi công việc và hoàn cảnh buồn bã chán chường, chúng ta có những khuynh hướng quay về những thế giới tưởng tượng, những hy vọng hoặc hướng đến các ký ức, những thứ này lần lượt là những lối thoát giả tạo trong hiện tại, tương lai hay quá khứ. Nhưng đối người thật sự quan tâm đến việc hiểu mình, các cách xoay sở ấy đều chẳng có lợi ích gì, vì lẽ chúng ta là sự kết hợp của ảo tưởng với các tố khác như sợ hãi, tham ái và vô minh. Trong khi sự thực hành thiền định chuyên chú, chánh niệm có thể đi theo sau mọi sự lang thang của tâm, trong đời sống hàng ngày tốt hơn là tâm cần được đưa trở lại công việc đang làm. Chúng ta không nên "gởi " tâm mình đi bất cứ nơi đâu, không gởi tâm vào thế giới mộng tưởng, cũng không đưa tâm vào quá khứ hay tương lai. Đức Phật đã ví các thời gian này như sau:
" Quá khứ như giấc mộng,
Tương lai như ảo ảnh,
Hiện tại như đám mây."
Một cách ví như thế có thể hữu ích trong khi tâm chạy qua lại giữa các giấc mộng, ảo ảnh và các đám mây, tất cả đều không thật dù rằng cái hiện tại luôn luôn biến chuyển này là khía cạnh duy nhất của thời gian khả dĩ được so sánh với những sự vật trong cái thực tại lớn lao hơn. Ta cũng có thể xem thiền định như một sự tu tập chánh niệm giữ cái tâm " ở trong" thân này , tức là luôn luôn được tập trung vào một khía cạnh nào đó cũa thân. Dĩ nhiên chỉ có người hành thiền thành thật nhất thấy rằng lợi ích trong việc tu tập này lớn hơn mọi lạc thú mà cuộc đời dân hiến mới là người muốn thực hành bằng cách thức này, vì cách thức này không những chỉ cắt bỏ sự lưu luyến với các đối tượng bên ngoài mà còn cắt đứt đến cà việc vui hưởng những ý niệm lạc thú, hấp dẫn.
Quả thực, với công việc thực chẳng hay ho, con đường nhiếp tâm là con đường độc nhất chuyển đổi công việc thường ngày thành cái gì có giá trị. Ngày tháng trôi qua và đưa chúng ta lại gần cái chết và một sự tái sinh mà chúng ta chưa biết như thế nào, trong khi chính bây giờ ta có cơ hội để thực hành Chánh Pháp. Thay vì phản ứng với sân hận hay
những Si tưởng đối với những gì ta không ưa (hay trường hợp khác thì buôn thả tham dục), con đường Chánh niệm là Con đường Trung Đạo vượt lên trên những mẫu thức phản ứng xưa cũ này. bị chế ngự bởi tham , bởi sân hay bị si động bởi si chẳng có ích gì, chỉ có chánh niệm mới trỏ cho ta con đường thoát khỏi chúng.
Luôn luôn đem tâm trở về và làm cho tâm ra khỏi những rối reng là sự tu tập căn bản trong đời sống hằng ngày của chúng ta.Nếu chúng lợi dụng những lúc rãnh rỗi trong khi chờ đợi việc gì đó đã làm, hay chờ gặp ai, hay chờ xe buýt, tàu lửa hay khi đang một mình trong ít phúc thì sự lợi dụng ấy thật là khôn ngoan. Thay vì hướng tâm ta về một tờ báo để giải trí, hay hướng về đài vô tuyến, hay nói chuyện tầm phào cùng một người khác, nếu ta rút lui vào trong " chính mình thì tốt hơn". Hãy thoát khỏi sự chú tâm vào các sự vật bên ngoài, mà dùng phương cách niệm hơi thở hay lập đi lập lại một pháp ngữ hay một từ có ý nghĩa như " Buddha" ( Phật) hay Araha ( A la hán) làm như vậy cho đến khi ta lại bắt tay vào việc. Hướng vào nội tâm càng thường xuyên càng tốt, chúng ta sẽ thấy rất có lợi ích, tăng cường việc ngoài tu của mình và như thế lại làm tăng cường khả năng hướng nội.
Chánh niệm Hơi thở là phương pháp tập trung đặt biệt tốt trong cuộc hành trình và trong những lúc
chúng ta bồn chồn chờ đợi xe buýt hay tàu lửa. Tại sao dễ bị dao động hay không kiên nhẫn? Trong những lúc như thế chỉ một ít niệm hơi thở cũng chính là sự tu tập vì nó làm lắng diệu những vận hành nóng nảy của tâm và các cử động bồn chồn của thân. Việc gì phải tró mắt nhìn không đâu bên ngoài cửa sổ trong lúc hành trình? Tại sao phải nô lệ cho " co mắt điều khiển" trong khi có thể thực hiện một chút tu tập hữu ích? Ta không việc gì mà phải nghe chuyện phiếm của người khác thì tại sao ta phải làm nô lệ cho "cái tai điều khiển" ta không thể bị tai mình lại nhưng ta có thể rút lui sự chú tâm của mình đến một mức độ nào đó trong khi thực hành Chánh niệm.
Cũng chính chánh niệm giúp chúng ta đưa đến các quán tưởng đối trị vào tụ điểm. Ví dụ dục vọng có thể bị loại trừ ngay bằng các suy nghĩ về một thi thể đang bị hủy hoại. Những cái nhìn trao tặng cho các cô gái xinh xắn ( hay các chành đẹp trai) hình như trở nên buồn cười khi chúng ta nghĩ rằng các bà già, các ông già không bao giờ thu hút sự chú tâm đầy ham muốn như thế. Chỉ khi nào ta thấy được dục vọng thiêu đốt người đắm say nó như thế nào thì bây giờ hình như ta mới thấy dục vọng là đáng từ bỏ.
Tương tự, sự tham ăn dù đang là còn chưa đáng kể cũng có thể bị phá bỏ khi ta quán các quá trình của thân thể liên hệ với thức ăn. Các thức ăn đã
nhai không được hấp dẫn như những món ấy được đặt ra thật đẹp trên đĩa, trước khi được nhào lẫn với nước miếng. Cái đồ nôn ra cũng là thức ăn ấy trong quá trình biến đổi nhưng cũng chẳng làm khởi lên lòng tham ái. Phân dù có được đặt trên đĩa vàng đẹp nhất cũng không trở nên hấp dẫn thế mà nó lại là cái còn lại của thức ăn đã được ngốn nuốt một cách ngon lành. Trong lúc quán các thức ăn qua ba tầng bậc ấy, sự tham ăn hoàn toàn biến mất và bây giờ ta có thể dùng thức ăn như dùng thuốc để duy trì thân thể.
Chánh niệm cũng có trách nhiệm giác tỉnh chúng ta trong lúc giận dữ để quay tâm sang những đề mục khác hay những người khác. Chính chánh niệm báo trước cho ta một tình trạng mà giận dữ sắp có thể sinh khởi và có thể chuyển tình trạng ấy qua một bên mà an trú trong tịnh xá hay an trú ở nơi mà các Phạm Trú được phát hiện tốt đẹp, ở trong tự ái vậy.
Khin lòng đố kỵ ngóc cái đầu xấu xí của nó lên thì chánh niệm cho ta sự tỉnh giác biết " đố kỵ đã khởi lên" và ta không khởi lên được niềm vuitheo với cái vui của người khác thì chánh niệm giúp ta chú tâm vào tịnh xả và nếu tất cả đều thất bại thì chánh niệm giúp ta xoay sự chú tâm vào các đối tượng khác.
Đức Phật quả thực đã dạy rằng: "Ta bảo, các chánh niệm có lợi ích ở mọi nơi".
Từ phần trên đây ý nghĩa xã hội của thiền định hẳn rõ ràng. Những ai có sự mơ lầm kỳ lạ rằng phật giáo là một tôn giáo của sự tách biệt bằng thiền định, không cống hiến cho xã hội những lợi ích có tính chất xã hội, thì những người ấy cần hiểu rằng một phật tử tin tưởng rằng xã hội chỉ có thể được thay đổi tốt đẹp hơn với một cấp độ thường hằng nào đó bằng cách bắt đầu hành tác vào chính mình. Các lý tưởng về xã hội của Phật giáo được trình bày trong nhiều pháp ngữ quan trọng mà Đức Phật đã thuyết giảng cho các Phật tự cư sỹ, và trong các pháp ngữ ấy sự phát triển cá nhân luôn luôn được nhấn mạnh là một yếu tố rất cần thiết. Một xã hội trong đó đại đa số người sống thanh bình với nhau thì những lợi lạc của nó tưởng cũng chẳng cần phải nhấn mạnh. Sự phát triển của trí tuệ và từ bi của một người cá hiệu lực làm cho chất bột vật chất xung quanh người ấy sẽ được lên men. Phật giáo kêu gọi trước tiên hãy đạt cho được thanh bình trong tâm của chính chúng ta thì sau đó tự nhiên thanh bình của thế giới sẽ đến theo.
Cố gắng để đạt được thanh bình theo cách trái ngược lại sẽ không bao giờ là thực tiễn, cũng không sản sinh được hòa bình dài lâu và các Căn bản